Dãy Pha Ú Hò - nơi dân quân xã Phú Lệ lập trận địa phòng không trên đỉnh cao, bắn rơi máy bay Mỹ vào chiều 14/5/1967.
Bà Cao Thị Ngâm, 80 tuổi, người còn lại duy nhất trong đội dân quân 8 người trực bắn máy bay năm ấy.
Theo lời kể của bà Ngâm: “Hôm đó là ngày 14/5/1967, chúng tôi đang mai phục trên đỉnh núi Pha Ú Hò thì máy bay đến, bay dọc sông nên còn thấp hơn cả đỉnh núi. Chúng tôi còn phải dúi nòng súng xuôi xuống, rồi cả 7 khẩu đồng loạt bắn. Cách vị trí mai phục rất gần nên máy bay trúng đạn, phụt khói đen nghi ngút. Ban đầu máy bay quay tròn gầm gào điên cuồng, đang rơi xuống thì bỗng bốc cao lên khỏi các đỉnh núi rồi bay xa thêm được cả chục cây số nữa, sau rơi xuống khu vực xã Sơn Điện”.
Cũng theo bà Ngâm, để bắn được máy bay, phải mai phục trực chiến nhiều tháng trời. Từ năm 1965, khi bọn phỉ và tay sai của Pháp thường xuyên từ biên giới Lào và rừng sâu thỉnh thoảng lại tràn sang quấy phá đồng bào và phong trào cách mạng, xã đã thành lập “Đội dân quân du kích xã Phú Lệ” gồm 7 người và ông Hà Văn Thể, khi đó 23 tuổi, là xã đội trưởng kiêm đội trưởng đội dân quân. Bà còn nhớ tên tuổi từng thành viên khác trong đội dân quân, gồm: Cao Văn Them, Hà Văn Thứm, Hà Văn Phơi, Hà Văn Tấn, Hà Văn Ngọm, Hà Văn Tọn. Ông Thứm là người cao tuổi nhất.
"Đến năm 1967-1968 khi chiến dịch bắn phá miền Bắc được Mỹ tăng cường, nhiều tốp máy bay từ các căn cứ đóng ở Lào, Thái Lan thường bay qua đây đánh bom cầu Suối Xia, cầu Suối Pưng, Ngã ba Co Lương, đường 15A... thì đội dân quân xã được giao trực chiến đấu. Mỗi người được cấp một khẩu súng K44, riêng tôi là nữ và còn phải mang thêm dụng cụ cứu thương nên được giao súng CKC nhẹ nhất. Do các loại súng khi ấy không bắn được quá xa nên muốn bắn máy bay phải lên núi cao nhất mai phục", bà Ngâm chia sẻ.
Núi Pha Ú Hò có 3 ngọn, trận địa phòng không được bố trí ở ngọn giữa, cao nhất.
Theo nhân chứng còn lại, ngoài leo các đoạn dốc, những chỗ đá dựng phải nối các thang luồng, rồi treo các thang dây qua những đoạn cheo leo. Dãy Pha Ú Hò có 3 ngọn bằng nhau, trận địa phòng không được bố trí ở ngọn giữa, dựa vào những tảng đá lớn và xếp thêm đá che an toàn. "Thường thì 6 giờ sáng là bắt đầu lên núi và 5 giờ chiều mới xuống nên đội mang theo sắn luộc và mỗi người một bình toong nước, nhiều hôm rất đói nhưng anh em đều đồng lòng vượt qua”, bà Ngâm kể.
Ông Hà Văn Cấm, 82 tuổi (giữa) - một nhân chứng khác còn khá minh mẫn.
Nói về sự kiện dân quân xã nhà bắn rơi máy bay, ông Hà Văn Cấm không khỏi tự hào: “Tôi là cán bộ xã phụ trách khâu hộ tịch hộ khẩu khi ấy. Tôi rất nhớ, đầu giờ chiều ngày 14/5/1967, khi có tin dân quân bắn rơi máy bay, mọi người tự hào với cảm xúc khó tả lắm! Xã tổ chức cuộc họp khẩn tại bản Tai Giác, triển khai cho dân sơ tán vào hang, khe núi và ven suối sát chân núi để trú ẩn vì sợ có máy bay khác đến ném bom trả thù. Sau này Ban Chỉ huy Quân sự huyện Quan Hóa cũ cũng xác nhận vết đạn trên xác máy bay là của súng K44 chứ không phải do pháo hay loại đạn khác”.
Chiếc khay cốc chén là kỷ vậy của ông Hà Văn Cấm, theo ông là được chế tác từ một mảnh nhôm trong máy bay địch bị bắn hạ.
Sách "Lịch sử Đảng bộ xã Phú Lệ 1948-2015”, xuất bản năm 2017, cũng có đoạn đề cập đến sự kiện dân quân địa phương bắn rơi máy bay địch.
Loại máy bay “thần sấm” F105 của Mỹ được sử dụng nhiều trong các chiến dịch ném bom phá hoại miền Bắc. Dân quân Phú Lệ đã bắn rơi loại máy bay này. (Ảnh: Internet).
Cuốn sách được coi là công trình lịch sử địa phương bài bản và chính quy nhất là “Lịch sử Đảng bộ huyện Quan Hóa giai đoạn 1950-2025” được chỉnh lý nhiều lần (NXB Lao động, xuất bản ngay trước thời điểm giải thể cấp huyện), cũng chỉ đề cập sự kiện dân quân Phú Lệ bắn cháy máy bay F105 ở trang 138 và 139.
Lê Đồng