Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam

Tìm lời giải cho phát triển kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp Việt Nam
5 giờ trướcBài gốc
Chương trình Tọa đàm “Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp” với sự tham gia của nhiều chuyên gia về kinh tế môi trường, nông nghiệp hữu cơ và chính sách nông nghiệp.
Tọa đàm nằm trong khuôn khổ Dự án “Thúc đẩy Kinh tế tuần hoàn cho doanh nghiệp” do Đại sứ quán Hà Lan tài trợ thông qua UNDP Việt Nam. Đây là diễn đàn trao đổi chuyên sâu giữa các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và tổ chức hỗ trợ phát triển nhằm đánh giá thực trạng triển khai kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp; đồng thời đề xuất các giải pháp về cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, công nghệ, tài chính xanh và liên kết thị trường.
Tham dự tọa đàm có PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Kinh tế môi trường Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường; GS.TS Hoàng Xuân Cơ, Trưởng ban Khoa học, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam; GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam; TS Lại Văn Mạnh, Trưởng ban Kinh tế tài nguyên và môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường; bà Hoàng Thị Diệu Linh, Cán bộ chương trình Kinh tế tuần hoàn và Xử lý chất thải của UNDP Việt Nam, cùng nhiều chuyên gia, nhà khoa học.
PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường Việt Nam, Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế môi trường, phát biểu đề dẫn tại tọa đàm.
Kinh tế tuần hoàn không chỉ là xử lý chất thải
Phát biểu đề dẫn tọa đàm, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh nhấn mạnh, chuyển đổi từ mô hình kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn không chỉ là câu chuyện của riêng lĩnh vực môi trường. Đây là yêu cầu có tính liên ngành, cần được đặt trong nhiều lĩnh vực sản xuất như khai thác khoáng sản, công nghiệp, nông nghiệp và quản lý chất thải.
Theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, các diễn đàn tham vấn chính sách có vai trò quan trọng trong việc tập hợp ý kiến chuyên gia, từ đó góp phần hoạch định chính sách sát hơn với thực tiễn phát triển của Việt Nam. Với nông nghiệp, kinh tế tuần hoàn không thể chỉ dừng lại ở việc tận dụng chất thải sau sản xuất, mà cần được nhìn nhận như một cách tổ chức lại chuỗi giá trị: từ đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối, tiêu dùng đến tái sử dụng phụ phẩm.
Từ góc độ hỗ trợ doanh nghiệp, bà Hoàng Thị Diệu Linh cho biết, nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về kinh tế tuần hoàn đã thay đổi rõ rệt trong vài năm gần đây. Nếu như năm 2022, khái niệm này còn tương đối mới với nhiều doanh nghiệp, thì đến năm 2025, sau các chương trình đào tạo và hỗ trợ chính sách, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng kế hoạch kinh doanh tuần hoàn, tìm kiếm tư vấn chuyên gia và kết nối với các tổ chức hỗ trợ.
Điều đó cho thấy kinh tế tuần hoàn đang dần chuyển từ phạm vi nhận thức sang nhu cầu hành động. Tuy nhiên, để doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất thực sự đầu tư vào mô hình tuần hoàn, cần có một hệ sinh thái chính sách đủ rõ, đủ ổn định và đủ khả thi.
GS.TS Hoàng Xuân Cơ nhấn mạnh phụ phẩm nông nghiệp cần được nhìn nhận là nguồn tài nguyên thứ cấp, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản.
Phụ phẩm nông nghiệp: Nguồn tài nguyên thứ cấp lớn
Một trong những nội dung được các chuyên gia tập trung phân tích là tiềm năng rất lớn của phụ phẩm nông nghiệp Việt Nam. GS.TS Hoàng Xuân Cơ cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh nông sản ngày càng gay gắt, năng lực cạnh tranh không chỉ được quyết định bởi chất lượng, giá thành, mẫu mã hay tiếp thị, mà còn bởi yếu tố thân thiện với môi trường và tính minh bạch thông tin.
Từ góc nhìn đó, phụ phẩm nông nghiệp không nên bị coi đơn thuần là chất thải, mà cần được nhìn nhận là nguồn nguyên liệu thứ cấp có thể tạo ra giá trị mới. Trong chuỗi lúa gạo, rơm rạ là phụ phẩm có khối lượng rất lớn, giàu chất hữu cơ, cellulose và khoáng vi lượng, có thể phục vụ sản xuất phân hữu cơ, năng lượng sinh học, vật liệu xanh và các ngành công nghiệp sinh học. Vỏ trấu, cám gạo cũng là nguồn nguyên liệu có giá trị cho nhiều lĩnh vực như thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm và vật liệu sinh học.
Không chỉ lúa gạo, các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản đều phát sinh lượng lớn phụ phẩm, chất thải hữu cơ và vật liệu có thể tái chế. Rơm rạ, thân cây ngô, bã mía, vỏ cà phê, vỏ trấu, phân gia súc, nước thải chăn nuôi, phụ phẩm thủy sản, vỏ tôm, đầu cá, bùn thải nuôi trồng thủy sản… nếu được phân loại, thu gom và xử lý đúng cách có thể trở thành phân bón hữu cơ, khí sinh học, thức ăn cho trùn quế, ruồi lính đen, nhiên liệu sinh học hoặc nguyên liệu cho các ngành công nghiệp giá trị cao.
Tuy nhiên, theo đánh giá tại tọa đàm, tỷ lệ tái chế, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp hiện vẫn còn thấp, chủ yếu diễn ra ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Nhiều loại phụ phẩm chưa được thu gom hiệu quả, thậm chí còn bị đốt bỏ hoặc thải trực tiếp ra môi trường, gây lãng phí tài nguyên, phát thải khí nhà kính và tạo áp lực ô nhiễm tại khu vực nông thôn.
Từ thực tế đó, GS.TS Hoàng Xuân Cơ đề xuất cần tăng cường truyền thông tới cộng đồng, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản, có cơ chế ưu tiên đối với ngành sản xuất sử dụng phụ phẩm nông nghiệp, đồng thời hỗ trợ các sản phẩm nông nghiệp có phụ phẩm được tái chế, tái sử dụng hiệu quả. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng và thúc đẩy thị trường cho sản phẩm có yếu tố tuần hoàn cũng là điều kiện quan trọng để mô hình này phát triển bền vững.
GS.TS Đào Thanh Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam trình bày tham luận về thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp thông qua chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn xanh.
Tiêu chuẩn xanh và tiêu chí mô hình nông nghiệp tuần hoàn
Trình bày tại tọa đàm, GS.TS Đào Thanh Vân nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa nông nghiệp hữu cơ, tiêu chuẩn xanh và kinh tế tuần hoàn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên, yêu cầu truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải ngày càng khắt khe, sản xuất nông nghiệp không thể tiếp tục dựa vào mô hình khai thác tài nguyên theo chiều rộng.
Theo GS.TS Đào Thanh Vân, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp là quá trình chuyển từ mô hình tuyến tính sang mô hình tuần hoàn; trong đó phụ phẩm được tái sử dụng, tài nguyên đất, nước, khí hậu và đa dạng sinh học được tối ưu, vòng tuần hoàn dinh dưỡng được khép kín, phát thải được cắt giảm và giá trị gia tăng của sản phẩm được nâng lên.
Nông nghiệp hữu cơ có nhiều điểm tương đồng với kinh tế tuần hoàn khi dựa trên các chu trình sinh thái, bảo vệ tài nguyên đất, hệ sinh thái và sức khỏe con người. Sản xuất hữu cơ khuyến khích tái sử dụng sinh khối, phụ phẩm để sản xuất phân hữu cơ; hạn chế các yếu tố gây tác động tiêu cực đến môi trường; tăng đa dạng sinh học; bảo vệ đất, nước và hệ sinh thái.
Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều khu vực khác ngày càng coi trọng tiêu dùng xanh, phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm môi trường, chứng nhận hữu cơ và tiêu chuẩn xanh không chỉ là công cụ kỹ thuật. Đây còn là “giấy thông hành” giúp nông sản Việt Nam nâng cao uy tín, mở rộng thị trường, đáp ứng yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu và gia tăng giá trị thương mại.
Từ đó, kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không nên được hiểu tách rời với quá trình chuẩn hóa sản xuất. Muốn phụ phẩm trở thành tài nguyên, muốn sản phẩm tuần hoàn có chỗ đứng trên thị trường, cần có tiêu chí đánh giá, chứng nhận, nhãn nhận diện, cơ chế truy xuất nguồn gốc và hệ thống dữ liệu đủ tin cậy.
Ở góc độ chính sách, TS Lại Văn Mạnh cho rằng, để kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp đi vào thực tiễn, trước hết cần nhận diện đúng mô hình, phân loại rõ lĩnh vực áp dụng và xây dựng bộ tiêu chí phù hợp.
Theo cách tiếp cận được trình bày tại tọa đàm, nông nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm đầu ra, đồng thời phát sinh nguyên liệu, phụ phẩm và chất thải trong suốt chuỗi giá trị. Do đó, kinh tế tuần hoàn có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, chế biến thực phẩm, chế biến gỗ và liên kết nông - lâm - ngư nghiệp với công nghiệp, dịch vụ.
Các mô hình tuần hoàn tiềm năng gồm thiết kế và sản xuất tuần hoàn trong canh tác, chăn nuôi, thủy sản, trồng rừng; sản xuất nguyên liệu và sản phẩm có nguồn gốc sinh học, hữu cơ; phục hồi tài nguyên thông qua thu gom, tái chế, thu hồi khí sinh học, cải tạo đất; liên kết tuần hoàn giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thực phẩm và du lịch nông nghiệp.
Một số mô hình phổ biến đã có nền tảng tại Việt Nam như vườn - ao - chuồng, vườn - ao - chuồng - rừng, lúa - tôm, lúa - cá, nông lâm kết hợp, sử dụng chất thải chăn nuôi để sản xuất biogas, ủ phân hữu cơ, nuôi trùn quế hoặc dùng phụ phẩm cây trồng làm thức ăn gia súc, đệm lót sinh học. Những mô hình này không mới, nhưng cần được chuẩn hóa bằng tiêu chí kỹ thuật, tiêu chí môi trường, cơ chế đo lường và khả năng nhân rộng.
Đối với trồng trọt, các tiêu chí có thể tập trung vào tỷ lệ phụ phẩm được thu gom, xử lý, tái chế, tái sử dụng; tỷ lệ giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; mức giảm phát thải khí nhà kính nếu có. Đối với chăn nuôi, yêu cầu quan trọng là xử lý chất thải rắn, nước thải, khí metan, tái sử dụng phụ phẩm làm phân bón, năng lượng tái tạo hoặc sản phẩm hữu ích khác; đồng thời bảo đảm khả năng truy xuất nguồn gốc của phụ phẩm, chất thải và sản phẩm tạo ra.
Đối với thủy sản, mô hình tuần hoàn có thể gắn với hệ thống nuôi tuần hoàn nước, biofloc, nuôi đa tầng, xử lý sinh học hoặc mô hình tích hợp nuôi - chế biến - năng lượng. Trong khi đó, các mô hình liên kết tuần hoàn cần chú trọng sự phù hợp với đặc điểm vùng, địa phương, khả năng thu gom phụ phẩm, tiêu chuẩn xử lý chất thải, nước thải và cơ chế hợp tác giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ quan quản lý.
Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp cần được tổ chức theo chuỗi, từ thu gom phụ phẩm, xử lý, tái chế đến tái sử dụng trong sản xuất, qua đó biến chất thải thành nguồn tài nguyên có giá trị.
Cần chính sách và liên kết chuỗi để đưa mô hình vào thực tiễn
Tại tọa đàm, các chuyên gia thống nhất rằng Việt Nam đã có những bước đi quan trọng trong xây dựng nền tảng chính sách cho kinh tế tuần hoàn. Quyết định số 222/QĐ-TTg ngày 23/1/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện kinh tế tuần hoàn đến năm 2035 được xem là cơ sở quan trọng để thúc đẩy mô hình này trong các lĩnh vực trọng điểm, trong đó có nông nghiệp.
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường 2020, Nghị định 08/2022/NĐ-CP, các chính sách về tăng trưởng xanh, khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp tuần hoàn, danh mục phân loại xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh và cơ chế hỗ trợ lãi suất cho dự án xanh, tuần hoàn đang tạo ra khung chính sách ngày càng rõ hơn.
Tuy nhiên, từ chính sách đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách. Việt Nam hiện vẫn thiếu hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia cho sản phẩm nông nghiệp tuần hoàn; thiếu nhãn mác, nhãn chứng nhận; thiếu chính sách tín dụng xanh đủ thuận lợi cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất; thiếu bảo hiểm rủi ro, cơ chế khuyến khích đầu tư công nghệ xử lý phụ phẩm và đặc biệt là thiếu dữ liệu về phụ phẩm, bản đồ phát sinh chất thải, chuỗi phát thải theo vùng, ngành hàng.
Những thiếu hụt này khiến doanh nghiệp khó tính toán hiệu quả đầu tư, khó tiếp cận vốn, khó chứng minh giá trị môi trường của sản phẩm và khó xây dựng mô hình tuần hoàn ở quy mô lớn. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần nhanh chóng cụ thể hóa các văn bản hướng dẫn về dự án xanh, dự án tuần hoàn, tiêu chí môi trường - xã hội - quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế đo lường phát thải.
Một điểm nhấn quan trọng được đặt ra tại tọa đàm là kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không thể vận hành hiệu quả nếu thiếu liên kết. Với đặc thù sản xuất nông nghiệp Việt Nam còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, việc thu gom phụ phẩm, xử lý chất thải và hình thành sản phẩm tái chế sẽ rất khó nếu từng hộ sản xuất tự thực hiện riêng lẻ.
Do đó, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp dịch vụ môi trường, doanh nghiệp chế biến, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương cần cùng tham gia vào chuỗi tuần hoàn. Chất thải chăn nuôi có thể trở thành phân bón hữu cơ cho cây trồng hoặc nguyên liệu sản xuất biogas; phụ phẩm cây trồng có thể được ủ làm phân hữu cơ, thức ăn gia súc hoặc đệm lót sinh học; phụ phẩm chế biến thực phẩm có thể quay trở lại nông trại dưới dạng phân bón, nhiên liệu sinh học hoặc vật liệu sinh học.
Khi được tổ chức theo chuỗi, phụ phẩm không còn là gánh nặng xử lý của từng hộ sản xuất mà trở thành dòng nguyên liệu có giá trị kinh tế. Đây cũng là cách để giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng chống chịu của hệ thống nông nghiệp trước biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng môi trường nông thôn và tạo thêm sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Tuy nhiên, để làm được điều đó, cần có cơ chế khuyến khích đầu tư vào hạ tầng thu gom, sơ chế, xử lý phụ phẩm; hỗ trợ hợp tác xã xây dựng mô hình dịch vụ tuần hoàn; phát triển thị trường cho phân bón hữu cơ, năng lượng sinh học, vật liệu sinh học; đồng thời nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về giá trị của sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn xanh, chứng nhận hữu cơ và thực hành tuần hoàn.
Tọa đàm “Thực trạng và triển vọng áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp” cho thấy kinh tế tuần hoàn không còn là khái niệm xa vời, mà đang trở thành một yêu cầu cụ thể trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp. Với nguồn phụ phẩm lớn, hệ thống sản xuất đa dạng, nhu cầu giảm phát thải ngày càng cấp thiết và áp lực tiêu chuẩn từ thị trường xuất khẩu, Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
Dù vậy, lợi thế chỉ có thể chuyển thành động lực phát triển nếu được hỗ trợ bằng chính sách rõ ràng, tiêu chí cụ thể, cơ sở dữ liệu đầy đủ, tín dụng xanh khả thi, công nghệ phù hợp và liên kết chuỗi hiệu quả. Kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp không chỉ là giải pháp môi trường, mà còn là con đường nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản, gia tăng giá trị phụ phẩm, giảm chi phí sản xuất và xây dựng nền nông nghiệp xanh, bền vững hơn.
Từ định hướng chính sách đến hành động thực tiễn, điều quan trọng nhất là biến từng dòng phụ phẩm thành tài nguyên, từng mô hình nhỏ thành chuỗi giá trị và từng tiêu chuẩn xanh thành động lực để nông nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.
Phạm Thông
Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam : https://nongnghiephuuco.vn/tim-loi-giai-cho-phat-trien-kinh-te-tuan-hoan-trong-nong-nghiep-viet-nam-14622.html