Muốn bán tín chỉ carbon, trước hết phải hiểu thị trường
Những năm gần đây, tín chỉ carbon được nhắc đến như một cơ hội mới để gia tăng giá trị cho tài nguyên rừng, tạo thêm nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Trung Thông, chuyên gia carbon rừng của Tổ chức Forest Trends, đây là loại hàng hóa đặc biệt, khác xa với cách hiểu đơn giản rằng cứ có rừng là có thể bán được tín chỉ carbon.
Với diện tích rừng lớn tốp đầu cả nước, Nghệ An sở hữu nhiều lợi thế để tham gia thị trường carbon. Ảnh: Việt Khánh
Để hình thành một tín chỉ carbon, chủ dự án phải trải qua nhiều công đoạn từ xây dựng phương pháp luận, đo đạc, kiểm kê carbon, thẩm định, xác minh đến đăng ký và phát hành theo các tiêu chuẩn được công nhận. Toàn bộ quá trình này đòi hỏi nguồn lực tài chính, năng lực kỹ thuật và hệ thống giám sát chặt chẽ.
Theo ông Thông, sai lầm phổ biến hiện nay là nhiều địa phương hoặc chủ rừng thường bắt đầu bằng câu hỏi có thể tạo ra bao nhiêu tín chỉ carbon, trong khi điều quan trọng hơn là xác định tín chỉ đó sẽ được bán cho ai và bán ở thị trường nào. “Thị trường mới là yếu tố quyết định sự thành công của dự án carbon. Nếu không xác định được nhu cầu và đối tượng mua ngay từ đầu, rất khó để xây dựng dự án hiệu quả”, ông Thông nhận định.
Thực tế cho thấy, nhu cầu tín chỉ carbon không tự động xuất hiện. Người mua ngày càng có yêu cầu cao về chất lượng tín chỉ, tính minh bạch và các lợi ích môi trường - xã hội mà dự án mang lại. Vì vậy, việc nghiên cứu thị trường, lựa chọn tiêu chuẩn phù hợp và xác định đúng phân khúc khách hàng cần được thực hiện ngay từ giai đoạn thiết kế dự án.
Nếu trước đây tín chỉ carbon thường được định giá theo lĩnh vực như lâm nghiệp, năng lượng tái tạo hay xử lý chất thải thì hiện nay xu hướng này đã thay đổi đáng kể. Theo các chuyên gia, ngay trong cùng một nhóm tín chỉ carbon rừng vẫn có thể xuất hiện sự chênh lệch giá rất lớn. Giá trị của tín chỉ phụ thuộc vào chất lượng dự án, tiêu chuẩn chứng nhận, phương pháp luận áp dụng, mức độ minh bạch thông tin và khả năng chứng minh hiệu quả giảm phát thải.
Một dự án không chỉ cần chứng minh khả năng hấp thụ hoặc giảm phát thải khí nhà kính mà còn phải thể hiện được những lợi ích đi kèm như bảo tồn đa dạng sinh học, tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương hay nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây cũng là lý do các dự án dựa vào thiên nhiên (Nature-based Solutions - NbS) đang nhận được sự quan tâm ngày càng lớn từ các nhà đầu tư quốc tế. Không chỉ dừng lại ở hoạt động trồng hoặc bảo vệ rừng, nhóm dự án này còn hướng tới phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và tạo giá trị phát triển bền vững cho cộng đồng.
Xu hướng giao dịch trên thị trường carbon thế giới cũng đang thay đổi. Thay vì chỉ mua các tín chỉ đã được phát hành, nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư sẵn sàng tham gia từ giai đoạn đầu thông qua các thỏa thuận mua trước hoặc đầu tư dài hạn để bảo đảm nguồn cung tín chỉ chất lượng cao trong tương lai. Điều này mở ra cơ hội cho các dự án carbon rừng tại Việt Nam nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực quản lý, minh bạch dữ liệu và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
Cơ hội lớn nhưng không dễ tạo nguồn thu ngay
Trả lời các câu hỏi về thực tiễn triển khai thị trường tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam, TS. Nguyễn Sỹ Linh, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường (ISPAE) cho biết, Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành thị trường. Mặc dù tín chỉ carbon từ các giải pháp dựa vào thiên nhiên đã được giao dịch phổ biến tại nhiều quốc gia, song đến nay Việt Nam vẫn chưa có dự án carbon rừng nào được đăng ký, phát hành và giao dịch thành công theo các tiêu chuẩn quốc tế độc lập như Verra hay Gold Standard.
Chương trình giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ hợp tác với Ngân hàng Thế giới hiện là mô hình nổi bật nhất. Tuy nhiên, đây chủ yếu là cơ chế chi trả theo kết quả giảm phát thải, chưa hoàn toàn tương đồng với mô hình tín chỉ carbon rừng được phát hành và giao dịch trên thị trường carbon tự nguyện quốc tế.
Theo TS. Nguyễn Sỹ Linh, việc Việt Nam chưa có dự án carbon rừng phát hành theo chuẩn quốc tế vừa là thách thức, cũng là cơ hội. Thách thức nằm ở việc thiếu kinh nghiệm thực tiễn, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội cho các địa phương, doanh nghiệp và chủ rừng tiên phong tham gia thị trường trong giai đoạn đầu.
Để tạo nền tảng pháp lý cho lĩnh vực này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 180/2026/NĐ-CP về phát triển và quản lý carbon rừng. Đây được xem là bước tiến quan trọng nhằm định hình khung pháp lý cho hoạt động đăng ký, xác nhận và giao dịch tín chỉ carbon rừng trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, nhiều hướng dẫn kỹ thuật và quy trình triển khai vẫn đang được tiếp tục hoàn thiện. Vì vậy, chủ rừng và nhà đầu tư cần theo dõi sát các quy định mới để chuẩn bị đầy đủ trước khi tham gia thị trường.
Song song với việc xây dựng thị trường tín chỉ carbon, Việt Nam cũng đang triển khai thí điểm hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải (ETS). Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp thuộc diện quản lý phát thải có thể lựa chọn tự giảm phát thải, mua bán hạn ngạch hoặc sử dụng tín chỉ carbon đủ điều kiện để bù trừ một phần nghĩa vụ tuân thủ. Điều này được kỳ vọng sẽ tạo thêm nguồn cầu cho tín chỉ carbon trong nước. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng nhu cầu thực tế sẽ phụ thuộc vào bài toán chi phí của từng doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sẽ cân nhắc giữa việc đầu tư công nghệ giảm phát thải, mua hạn ngạch phát thải từ đơn vị khác hoặc mua tín chỉ carbon để lựa chọn phương án có chi phí thấp nhất. Vì vậy, nhu cầu đối với tín chỉ carbon vẫn mang bản chất thị trường và không phải lúc nào cũng tăng theo kỳ vọng. Bên cạnh đó, nguồn cung tín chỉ carbon trong nước hiện còn rất hạn chế. Doanh nghiệp chưa dễ dàng xác định được nguồn mua, khối lượng cũng như mức giá phù hợp. Đây được xem là một trong những thách thức lớn trong giai đoạn thí điểm thị trường carbon tại Việt Nam.
Các chuyên gia nhận định, thị trường carbon chắc chắn sẽ tạo thêm cơ hội cho ngành lâm nghiệp và các địa phương có diện tích rừng lớn. Tuy nhiên, tín chỉ carbon không phải là “mỏ vàng” có thể khai thác dễ dàng. Để biến tiềm năng thành nguồn thu thực sự, các dự án cần được chuẩn bị bài bản từ khâu pháp lý, kỹ thuật đến chiến lược thị trường.
Trong bối cảnh các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, lợi thế sẽ thuộc về những dự án có chất lượng cao, minh bạch và tạo ra các giá trị bền vững cho môi trường cũng như cộng đồng địa phương.
Nguyễn Hạnh