Nhà văn Nông Viết Toại chia sẻ về Phong slư trong cộng đồng người Tày xưa.
Bốn mùa yêu
Phong slư được viết theo thể thơ 7 chữ liên tục, cũng có khi được chia thành từng khổ, mỗi khổ 4 câu. Mỗi bức Phong slư có nội dung ý tứ sâu sắc, lời thơ bóng bẩy thể hiện nội tâm, chữ viết nắn nót, bay bổng với độ dài khoảng vài chục câu.
Người Tày xưa thường viết Phong slư trên vải, rộng trên dưới nửa mét. Khung bức thư vẽ trang trí ong bướm, hoa lá, chim én ngậm phong thư, rồng chầu mặt nguyệt… như một tác phẩm văn học nghệ thuật, thường được nam nữ người Tày xưa treo hoặc dán ở buồng ngủ.
Một bản Phong slư thường được viết bằng chữ Nôm Tày do nam hoặc nữ gửi cho người mình yêu. Với những người biết chữ có thể tự sáng tác được thì bức Phong slư mạng đậm dấu ấn cá nhân của người viết ra nó.
Cái bụng nghĩ sao, trái tim mách bảo thế nào thì viết ra thế ấy, nhưng chữ viết phải nắn nót, càng cầu kỳ thì càng thể hiện lòng thành. Phong slư còn được viết trên giấy màu hồng hoặc đỏ, màu tượng trưng cho tình yêu nồng nhiệt của những đôi lứa yêu nhau.
Nhà văn Nông Viết Toại kể lại: Ngày xưa, trong cộng đồng người Tày có nhiều người không biết chữ, phải nhờ những ông “Slầy sli”, những trí thức bình dân sống trong cộng đồng người Tày viết hộ.
Chuyện tình cảm riêng tư được đưa ra cho người khác xem được, đọc được đã là việc hiếm thấy, mà cái riêng tư ấy được nâng thành một thể loại có kết cấu và quy cách biểu hiện riêng, có luật thơ cố định và đặc biệt hơn nữa là có cách ngâm vịnh riêng biệt thành làn điệu dân ca được cộng đồng ghi nhận, đó là một nét đặc sắc trong làn điệu Phong slư của người Tày.
Thông thường, phần mở đầu Phong slư sẽ theo một khuôn mẫu có sẵn. Một năm có bốn mùa, thư viết thời điểm nào thì câu mở đầu nhắc tới mùa đó. Phong slư chỉ nói về chủ đề tình yêu, nhưng đó là tình yêu trong bốn mùa sản xuất nghề nông.
Nghệ thuật viết Phong slư thường dùng cách nói khoa trương, cường điệu để chứng tỏ rằng vì người yêu mà họ có thể làm được những việc trái với logic. Chẳng hạn như vì người mình yêu mà quyết đắp ao trên ngọn cây thả cá, lấy nước nấu thành dầu thắp, cho nước chảy lên đỉnh núi, bắt thuyền đang xuống thác quay trở lại…
Vì vậy Phong slư vẫn tồn tại trong đời sống tình cảm của người Tày như một nét đẹp văn hóa, thấm đẫm tình yêu mãnh liệt, da diết. Để thể hiện trình độ của người viết, Phong slư của người Tày còn hay dùng các điển tích, điển cố trong lịch sử, hay các truyện cổ Tày để gợi cho người yêu noi theo như truyện “Nam Kim - Thị Đan”, “Lương Quân - Bjoóc Phạ”…
Điệu hát Phong slư mang giai điệu ngọt ngào, lúc trầm, lúc bổng chứa đầy tương tư. Càng cách xa nhau, tình cảm càng lắng dày theo năm tháng, những cánh thư tình qua lại càng nhiều lên, nội dung bức thư thêm phong phú, đậm đà.
Điều làm nên sự khác biệt giữa Phong slư với các làn điệu hát dân gian khác của người Tày là cách ngâm. Khi Phong slư được gửi đến tay người nhận, họ sẽ cẩn thận giở ra, cầm phong thư trên tay vừa đọc vừa ngâm để thưởng thức thơ tình, để cảm nhận các lời ẩn dụ, tình tứ yêu thương hoặc nhớ thương, giận hờn... của người bạn tình gửi đến.
Một phần ký ức chung
Một bức Phong slư cổ được viết bằng chữ Nôm Tày
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên không còn nhiều người biết hát Phong slư. Những người biết viết và hát Phong slư chủ yếu là những thế hệ nghệ nhân lớn tuổi ở các xã: Chợ Đồn, Nam Cường, Ba Bể, Bằng Thành.
Nhiều năm trước, tại Lễ hội lồng tồng Ba Bể thường tái hiện lại màn hát đối đáp Phong slư, tuy nhiên, theo sự thay đổi của thời gian, không gian để tổ chức cho những người hát giao lưu làn điệu Phong slư cũng ngày càng thu hẹp và ít đi.
Bà Vũ Thị Lương, nghệ nhân dân gian ở xã Chợ Đồn, cho biết: Ngày xưa, mỗi lần chúng tôi đi tuyên truyền lưu động tại các thôn, bản thường biểu diễn làn điệu Phong slư. Bà con rất chăm chú lắng nghe, không gian như lắng lại, cảm xúc rất vui và xúc động. Bây giờ giới trẻ còn ít người biết hát, tôi cũng mong xã sẽ có những lớp truyền dạy để khôi phục lại làn điệu dân ca này.
Với Phong slư, cha ông người Tày không chỉ gửi gắm cách giao tiếp tinh tế trong tình yêu, mà còn trao truyền những chuẩn mực đạo đức bền chặt của cộng đồng. Đó là tiếng lòng tình yêu chung thủy, son sắt của người Tày xưa. Thật không quá khi nói rằng nếu muốn biết ngày xưa các thế hệ ông, bà người Tày đã từng thể hiện tình yêu như thế nào, hãy tìm đọc những bài Phong slư.
Trong đời sống tình cảm của người Tày, khi hai người nên duyên, Phong slư trở thành kỷ vật quý giá, được nâng niu và gìn giữ như một phần ký ức chung. Còn nếu lỡ dở, không thể ở bên nhau, thì những bức thư ấy lại hóa thành kỷ niệm khắc sâu, theo họ suốt cả cuộc đời.
Dẫu thời gian không ngừng trôi, cách con người bày tỏ tình yêu có thể đổi thay, nhưng vẻ đẹp của tình yêu vẫn còn nguyên vẹn. Và Phong slư cũng vậy, mãi mãi là bức thư tình quyến rũ, là kỷ vật tình yêu một thời trong đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Tày.
Ngày nay, đề tài trong Phong Slư phong phú hơn, đó không chỉ là những bài thơ thể hiện tình yêu nam nữ, mà còn ca ngợi các anh hùng dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, hay các nội dung tuyên truyền, cổ động...
Những lời thơ mới được đặt trên nền thơ cổ, để cho mọi người ngâm nga cho cuộc sống thêm đậm đà yêu mến. Qua đó, những nét đẹp của loại hình văn hóa dân gian truyền thống này sẽ còn sức sống lâu bền trong cộng đồng dân cư.
Vi Diễn