Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề nghị, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, ban thường vụ đảng ủy các xã, phường và đảng ủy trực thuộc tỉnh (không bao gồm Quân sự và Công an tỉnh) căn cứ Danh mục vị trí việc làm và Khung năng lực vị trí việc làm tại Quyết định số 488-QĐ/TU để lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đề án vị trí việc làm gắn với biên chế, cụ thể hóa bản mô tả vị trí việc làm và xác định năng lực của từng vị trí bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức theo quy định. Mục đích của việc xây dựng khung năng lực là thống nhất nhận thức và cách áp dụng trong các cơ quan sử dụng công chức khi xây dựng bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm.
Cán bộ Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Trảng Bom điều hành Hội nghị tiếp xúc cử tri với người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Ảnh: Phương Hằng
Khung năng lực được sử dụng làm căn cứ để xác định yêu cầu năng lực đối với từng vị trí việc làm; xây dựng bản mô tả vị trí việc làm và khung năng lực của vị trí việc làm; theo dõi, đánh giá, xếp loại chất lượng công chức theo kết quả thực hiện nhiệm vụ; bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và xếp lương công chức theo ngạch phù hợp với vị trí việc làm.
Khung năng lực được xây dựng trên cơ sở quản lý công chức theo vị trí việc làm, lấy kết quả thực thi công vụ làm thước đo chủ yếu. Năng lực được xác định theo mức độ phức tạp của nhiệm vụ, phạm vi ảnh hưởng của sản phẩm công việc, mức độ độc lập trong thực hiện và mức độ chịu trách nhiệm của vị trí việc làm. Khung năng lực được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước; cơ quan sử dụng công chức căn cứ khung năng lực và hướng dẫn xác định cấp độ của năng lực để xác định chi tiết năng lực trong bản mô tả công việc của vị trí việc làm tại cơ quan, tổ chức mình.
Khung năng lực công chức được thiết kế theo 3 nhóm: năng lực chung; năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; năng lực lãnh đạo quản lý.
Đối với năng lực chung, có các nội dung: đạo đức và bản lĩnh; tổ chức thực hiện công việc; soạn thảo và ban hành văn bản; giao tiếp ứng xử; quan hệ phối hợp; sử dụng công nghệ thông tin; sử dụng ngoại ngữ.
Đối với năng lực chuyên môn, có các nội dung: xây dựng văn bản, hướng dẫn thực hiện văn bản, kiểm tra thực hiện văn bản, thẩm định văn bản và tổ chức thực hiện văn bản.
Đối với năng lực lãnh đạo, quản lý theo vị trí việc làm, gồm có tư duy chiến lược; quản lý sự thay đổi; ra quyết định; quản lý nguồn lực và phát triển nhân viên.
Mỗi nhóm có 5 cấp độ (từ thấp đến cao, tương ứng thấp nhất là cấp độ 1 và cao nhất là cấp độ 5).
Cụ thể như nhóm năng lực chung, khi xác định vị trí việc làm cho cấp độ 1 ở phần “Sử dụng ngoại ngữ”, chỉ yêu cầu giao tiếp cơ bản; nhưng lên cấp độ 4 yêu cầu là giao tiếp trôi chảy, linh hoạt và cấp độ 5 là sử dụng thành thạo ngôn ngữ.
Hay như nhóm năng lực lãnh đạo, quản lý, phần Tư duy chiến lược, cấp độ 1 yêu cầu xác định được mục tiêu, kế hoạch công việc cho bản thân; nhận thức được mục tiêu, định hướng phát triển của cơ quan, đơn vị; hiểu vai trò của lĩnh vực phụ trách trong tổng thể chung; lên cấp độ 5 yêu cầu, định hướng xây dựng mục tiêu, chiến lược phát triển dài hạn cho cơ quan, đơn vị, ngành, lĩnh vực, địa phương; tham gia hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô.
Phương Hằng