Tổ bầu cử có từ 11 - 21 thành viên gồm tổ trưởng, thư ký và các ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương. Tại đặc khu có dân số thường trú dưới 1.000 người mà không tổ chức cấp chính quyền địa phương thì ủy ban nhân dân đặc khu sau khi thống nhất với ban thường trực ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập tại mỗi khu vực bỏ phiếu 1 tổ bầu cử để thực hiện công tác bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh.
Những người nào được gọi là cử tri?
Trả lời:
Cử tri là người có quyền bầu cử. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - là người có quốc tịch Việt Nam, tính đến ngày bầu cử (ngày 15/3/2026), đủ 18 tuổi trở lên và có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về bầu cử đều có quyền bầu cử.
Người bị kết án phạt tù nhưng được hưởng án treo thì có được ghi tên vào danh sách cử tri để thực hiện quyền bầu cử không?
Trả lời:
Khoản 1, Điều 30 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định: “Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri”. Như vậy, công dân đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự, bị tòa án kết án phạt tù nhưng được hưởng án treo, nếu không bị tước quyền bầu cử (trong bản án không ghi hình phạt bị tước quyền bầu cử) vẫn có quyền bầu cử và được ghi tên vào danh sách cử tri ở nơi mình cư trú để tham gia bầu ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp theo quy định của pháp luật.
Người vừa câm vừa điếc có được ghi tên vào danh sách cử tri hay không?
Trả lời:
Người vừa câm vừa điếc nếu không thuộc các trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri quy định tại Điều 30 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND thì vẫn được ghi tên vào danh sách cử tri để tham gia bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND.
Việc lập danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?
Trả lời:
Danh sách cử tri do ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu (theo Mẫu số 31/HĐBC). Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân. Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 (theo Mẫu số 10/HĐBC), trừ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự.
Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào 1 danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cử tri ở địa phương về việc lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu. Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú; trường hợp cử tri có nguyện vọng bỏ phiếu ở nơi khác thì cần thông báo lại để ủy ban nhân dân cấp xã không ghi tên vào danh sách cử tri ở địa phương. Trong quá trình lập danh sách cử tri, Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ ghi vào danh sách những cử tri đang đăng ký tạm trú ở địa phương mình nếu cử tri đó thể hiện rõ nguyện vọng được tham gia bỏ phiếu tại nơi mình tạm trú (có thể bằng văn bản hoặc trực tiếp bằng lời nói với người có trách nhiệm, ví dụ như trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc cán bộ phụ trách công tác lập danh sách cử tri của ủy ban nhân dân cấp xã…).
Chậm nhất là ngày 3/2/2026 (40 ngày trước ngày bầu cử), ủy ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra. Việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc thay đổi, bổ sung, cập nhật danh sách cử tri được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Thông tư số 21/2025/TT-BNV, ngày 12/10/2025 của Bộ Nội vụ và Quyết định số 8202/QĐ-BCA-C06, ngày 7/10/2025 của Bộ Công an.
HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA