Ảnh minh họa.
Tòa án nhân dân tối cao vừa công bố án lệ số 77/2025/AL về việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin tình trạng bệnh hiểm nghèo của bên mua bảo hiểm.
Nguồn án lệ là quyết định giám đốc thẩm số 37/2023/DS-DGT ngày 24/8/2023 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự “tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là ông Đặng Ngọc M với bị đơn là Tổng Công ty V.
Nội dung tranh chấp thể hiện, vào năm 2014, ông Đặng Lâm Quốc B (con trai của ông Đặng Ngọc M) tham gia các gói bảo hiểm với Tổng Công ty V. Trong các gói bảo hiểm này, người thụ hưởng là người thân của ông B.
Sau khi mua bảo hiểm gần 1 năm, đến tháng 3/2015 thì ông B chết nhưng công ty bảo hiểm không đồng ý trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng. Do đó, người nhà ông B đã khởi kiện, yêu cầu tòa án trả khoản tiền bảo hiểm là 4 tỷ đồng.
Theo điểm b, khoản 2, Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, thì bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ “kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của Doanh nghiệp bảo hiểm”; khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: Bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm.
Vụ án trải qua giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, kéo dài từ năm 2017 – 2023.
Theo quyết định giám đốc thẩm, Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao quyết định giữ nguyên bản án phúc thẩm năm 2018.
Theo đó, tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này đồng nghĩa với việc công ty bảo hiểm không phải trả số tiền 4 tỷ đồng cho bên thụ hưởng.
Điểm mấu chốt trong án lệ trên là việc làm rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên tham gia bảo hiểm. Theo giấy yêu cầu bảo hiểm thể hiện tại các mục hỏi và trả lời về tình trạng sức khỏe cá nhân, khách hàng là ông B. tích “x” vào toàn bộ ô trả lời “không”, trong đó có câu hỏi về “khối u, ung thư”.
Trong kết luận kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện đa khoa Bình Dương ngày 21/6/2014, ông B cung cấp các thông tin, trong đó có những câu hỏi về việc phải nằm viện, song ông B tích vào ô trả lời “không”.
Còn theo tài liệu Tóm tắt bệnh án ngày 12/7/2016 của Bệnh viện Ung bướu TP.HCM thể hiện ông B nhập viện ngày 13/5/2014 với bệnh sử “carcinoma kém biệt hóa di căn hạch”. Bệnh nhân qua Singapore điều trị 6 chu kỳ. Bệnh viện xác định ông B bị ung thư biểu mô di căn.
Hội đồng Thẩm phán xác định có đủ cơ sở khẳng định trước khi xác lập giấy yêu cầu bảo hiểm, ông B biết rõ về tình trạng bệnh tật của mình, đã từng tham gia chữa trị tại nhiều bệnh viện khác nhau ở cả trong nước và nước ngoài với tình trạng bệnh lý ung thư, nhưng không khai báo trung thực tình trạng sức khỏe của mình.
Điều 4 hợp đồng bảo hiểm nêu rõ: “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và trung thực tất cả những thông tin có liên quan đến người được bảo hiểm và hợp đồng theo yêu cầu của Tổng Công ty V đồng thời hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin đã cung cấp”.
Nội dung án lệ nêu rõ “ông B đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về sức khỏe/bản thân, Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, Tổng Công ty V không phải chịu trách nhiệm bảo hiểm về những rủi ro đã phát sinh đối với người được bảo hiểm.
Trường hợp này, Tổng Công ty V chỉ phải hoàn lại giá trị tài khoản hợp đồng tương ứng với phí bảo hiểm đóng thêm (nếu có) trừ đi các quyền lợi bảo hiểm đã thanh toán, các khoản rút một phần giá trị tài khoản hợp đồng, khoản nợ (nếu có).
Tuy nhiên, theo Bảng minh họa về phân bổ phí và quyền lợi bảo hiểm của hợp đồng chính thì giá trị hoàn lại năm đầu tiên người mua bảo hiểm được nhận khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực theo quy định của hợp đồng là bằng không”.
Theo luật sư Nguyễn Huy Hoàng, Công ty luật Bross & cộng sự, trên thực tế đây là tranh chấp diễn ra khá phổ biến trong thời gian qua. Lý do là khách hàng không biết hoặc cố tình che giấu tình trạng thông tin sức khỏe; dẫn đến các tranh chấp kéo dài nhiều năm.
Quá trình xét xử, các cơ quan tố tụng cũng chưa thống nhất về quan điểm giải quyết. Do đó, án lệ trên là rất cần thiết, có nhiều ý nghĩa nhằm thống nhất quan điểm tố tụng, củng cố quy định của pháp luật về việc cung cấp nghĩa vụ thông tin, thêm minh bạch thị trường bảo hiểm, cân bằng lợi ích của các bên.
Khoản 2 Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây: a) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường; b) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này”.
Đỗ Mến