Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ từ ngày 5-7/5/2026. (Ảnh: VGP)
Theo Bộ Ngoại giao, Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 07/01/1972. Việt Nam có Đại sứ quán tại New Delhi và Tổng Lãnh sự quán tại Mumbai. Ấn Độ có Đại sứ quán tại Hà Nội và Tổng lãnh sự quán tại TP. Hồ Chí Minh. Khuôn khổ quan hệ hiện nay: Đối tác Chiến lược Toàn diện (9/2016).
Ngày 01/5/2003, hai nước ký “Tuyên bố chung về Khuôn khổ Hợp tác Toàn diện giữa Việt Nam và Ấn Độ bước vào thế kỷ XXI. Ngày 06/7/2007, nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược. Ngày 03/9/2016, nâng cấp lên mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Ngày 21/12/2020, thông qua Tuyên bố tầm nhìn chung Việt Nam - Ấn Độ về Hòa bình, Thịnh vượng và Người dân. Ngày 01/8/2024, thông qua Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Ấn Độ.
Hai nước có các cơ chế hợp tác: Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Tiểu ban Thương mại Hỗn hợp Việt Nam - Ấn Độ, Tham khảo chính trị và Đối thoại chiến lược, Đối thoại An ninh, Đối thoại Chính sách Quốc phòng, Đối thoại Chính sách đối ngoại, Đối thoại An ninh Biển…
Về hợp tác kinh tế, năm 2025, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam - Ấn Độ đạt 16,46 tỷ USD, tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2024. 3 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ đạt 4,8 tỷ USD, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ đạt 2,9 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Ấn Độ đạt 1,8 tỷ USD, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2025.
Về đầu tư, tính tháng 3/2026, các nhà đầu tư Ấn Độ có 503 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 1,117 tỷ USD, đứng thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Quy mô dự án bình quân là 2,36 triệu USD/dự án, thấp hơn quy mô dự án bình quân chung là 11,7 triệu USD/dự án.
Theo lĩnh vực đầu tư, các nhà đầu tư Ấn Độ đã đầu tư vào 15/21 ngành kinh tế của Việt Nam. Vốn đầu tư tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với 62 dự án và 643,3 triệu USD vốn đăng ký, chiếm 54,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; đứng thứ hai là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, khí với 4 dự án, vốn đăng ký 157 triệu USD, chiếm 13,4% tổng vốn đầu tư đăng ký; thứ ba là lĩnh vực khai khoáng với 5 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký 95 triệu USD, chiếm 8,1% tổng vốn đầu tư.
Theo địa bàn đầu tư, các nhà đầu tư Ấn Độ đã đầu tư tại 20/34 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Dẫn đầu là Thành phố Hồ Chí Minh với 348 dự án, tổng vốn đầu tư 377,8 triệu USD (chiếm 32,1% tổng vốn đầu tư); thứ hai là tỉnh Đăk Lăk với 10 dự án, tổng vốn đầu tư 303 triệu USD (chiếm 25,8% tổng vốn đầu tư); thứ ba là tỉnh Khánh Hòa với 02 dự án, tổng vốn đầu tư 94 triệu USD (chiếm 8,0% tổng vốn đầu tư). Tiếp theo là các địa phương: Thanh Hóa, Tây Ninh, Nghệ An, Phú Thọ…
Một số dự án tiêu biểu: (i) Dự án lớn nhất của Ấn Độ tại Việt Nam là dự án Nhà máy Đường Sơn Hòa tại tỉnh Đăk Lăk với tổng vốn đầu tư đăng ký 94,5 triệu USD; (ii) Dự án Công ty TNHH Cà phê Ngon tại tỉnh Đắk Lắk, tổng vốn đầu tư đăng ký 90 triệu USD; (iii) Dự án Nhà máy Điện mặt trời Infra 1, tổng vốn đầu tư 71,9 triệu USD tại tỉnh Khánh Hòa.
Đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ: Tính đến tháng 3/2026, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư sang Ấn Độ 30 dự án với tổng số vốn đầu tư gần 150,5 triệu USD, đứng thứ 17/88 địa bàn đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.
Về hợp tác trong các lĩnh vực khác, hợp tác giáo dục - đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực. Ấn Độ cấp cho ta 150 suất học bổng theo Chương trình Hợp tác kỹ thuật và kinh tế Ấn Độ (ITEC), 30 suất học bổng thuộc Chương trình CEP/GCSS, 2-4 suất/năm đào tạo tiếng Hindi và Văn hóa Ấn Độ, thành lập Trung tâm đào tạo nguồn lực chất lượng cao về công nghệ thông tin và truyền thông tại Hà Nội, Trung tâm tiếng Anh tại Đại học Đà Nẵng.
Hợp tác quốc phòng - an ninh tiếp tục là trụ cột quan trọng và chiến lược. Bộ Quốc phòng hai nước đang phối hợp triển khai các gói tín dụng quốc phòng và viện trợ không hoàn lại mà Chính phủ Ấn Độ dành cho Việt Nam. Ấn Độ hỗ trợ Việt Nam đào tạo, chuyển giao tàu ngầm cũ, trang thiết bị quốc phòng.
Hợp tác du lịch và giao lưu nhân dân được tăng cường và mở rộng. Hai bên đẩy mạnh kết nối hàng không, hàng hải. Ấn Độ hỗ trợ Việt Nam trùng tu các nhóm tháp Chăm tại khu di sản UNESCO Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam. Tháng 8/2024, hai bên đã ký Bản ghi nhớ hợp tác du lịch giữa hai nước và Ý định thư về việc Ấn Độ tiếp tục hỗ trợ tu bổ, tôn tạo, phục hồi Di sản Văn hóa Thế giới Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Trong hợp tác khoa học - công nghệ, năng lượng và dầu khí, hai bên có cơ chế Tiểu ban Khoa học, công nghệ. Hợp tác khoa học, công nghệ đã được thúc đẩy tạo đà mới trong một số lĩnh vực phù hợp với nhu cầu của hai nước nhất là đổi mới sáng tạo, robot, khởi nghiệp, năng lượng nguyên tử, công nghệ sinh học. Hai bên đã ký nhiều văn kiện hợp tác, thiết lập cơ chế Ủy ban Hỗn hợp về Năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, đang tích cực đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ thông tin (AI, bán dẫn), đất hiếm. Ấn Độ duy trì hợp tác thăm dò, khai thác dầu khí với Việt Nam tại Biển Đông.
Cộng đồng người Việt Nam tại sở tại có khoảng 1.000 người, phân bố rải rác ở nhiều địa phương, tập trung nhiều nhất tại New Delhi và Chennai, chủ yếu là: (i) Tăng, ni sinh Phật giáo sang học tập, nghiên cứu về Phật giáo, triết học hay tu tập tại một số trung tâm, cơ sở thờ tự (cả ngắn hạn và dài hạn); (ii) Lưu học sinh (sinh viên, cán bộ các cơ quan nhà nước…) theo học cả ngắn và dài hạn, từ trình độ cử nhân tới tiến sĩ (diện học bổng hiệp định chung, hợp tác trao đổi văn hóa - giáo dục, tự túc); (iii) Công dân Việt Nam lấy chồng người Ấn Độ; (iv) Người Việt Nam sang lao động, làm việc tự do theo hợp đồng, dự án có thời hạn với công ty Ấn Độ/công ty nước ngoài có trụ sở hoặc chi nhánh tại Ấn Độ/công ty Việt Nam cử sang.
Việt Hằng