Sau bước ngoặt hợp nhất TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa, Vũng Tàu, chính thức vận hành từ ngày 1/7/2025, thành phố mới không chỉ mở rộng địa giới hành chính mà còn tái định hình không gian phát triển. Một cấu trúc đô thị, công nghiệp, cảng biển được hình thành, trong đó vùng lõi TP.HCM cũ giữ vai trò tài chính, dịch vụ, tiêu dùng và quản trị; Bình Dương là nơi có nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn; Bà Rịa, Vũng Tàu mở ra cửa ngõ cảng biển, logistics, dầu khí, du lịch biển và kết nối quốc tế.
Hạ tầng mở khóa kinh tế mới cho siêu đô thị vùng
Điểm đáng chú ý trong giai đoạn phát triển mới của TP.HCM là hạ tầng không còn được nhìn như phần “đi sau” để giải quyết ùn tắc, mà đang trở thành công cụ dẫn dắt không gian kinh tế. Với một siêu đô thị vùng, đường sá, metro, cảng biển, cầu kết nối và các trục giao thông liên vùng không chỉ phục vụ đi lại, mà còn quyết định cách dòng vốn, hàng hóa, lao động và dịch vụ dịch chuyển.
Sau hợp nhất, TP.HCM đứng trước cơ hội xây dựng một siêu đô thị vùng có sức cạnh tranh quốc tế.
Nhìn từ phía đông nam thành phố, Cần Giờ đang nổi lên như một cực tăng trưởng mới. Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ không còn là một dự án hạ tầng đơn lẻ, mà mở ra tầm nhìn về hệ sinh thái kinh tế biển, logistics và thương mại quốc tế. Khi cảng biển được kết nối với cầu Cần Giờ, tuyến đường sắt tốc độ cao Bến Thành, Cần Giờ và không gian đô thị biển, khu vực này có thể trở thành đầu mối quan trọng trong mạng lưới trung chuyển hàng hóa của khu vực.
Theo quy hoạch, cảng Cần Giờ được thiết kế với công suất 4,8 triệu TEU vào năm 2030 và có thể đạt 16,9 triệu TEU vào năm 2047. Với khả năng tiếp nhận tàu container cỡ lớn, dự án này được kỳ vọng giúp Việt Nam giữ lại nhiều hơn giá trị gia tăng trong chuỗi logistics, giảm chi phí vận chuyển cho doanh nghiệp và nâng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Không chỉ Cần Giờ, nhiều dự án giao thông lớn cũng đang tạo nền cho cấu trúc đa cực. Ngày 15/1/2026, Sở Xây dựng TP.HCM khởi công 4 dự án lớn gồm metro số 2, cầu Cần Giờ, cầu Phú Mỹ 2 và khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc, với tổng vốn gần 240.000 tỉ đồng. Trong đó, metro số 2 Bến Thành - Tham Lương dài hơn 11 km đã hoàn tất khâu di dời hạ tầng, dự kiến thi công trong năm 2026 và vận hành năm 2030.
Cầu Cần Giờ dài hơn 6km dự kiến hoàn thành năm 2029, thay thế phà Bình Khánh. Cầu Phú Mỹ 2 với quy mô 8 làn xe nối TP.HCM với Đồng Nai sẽ góp phần giảm áp lực logistics cho cảng Cát Lái và cầu Phú Mỹ hiện hữu. Đến cuối tháng 4/2026, dự án đường Vành đai 3 đoạn qua TP.HCM dài 73 km đã hoàn thành 75% khối lượng, đóng vai trò điều tiết xe tải nặng ra khỏi khu vực trung tâm và tăng khả năng kết nối toàn vùng Đông Nam Bộ.
Ở cấp độ đô thị, tuyến Metro số 1 với hơn 20 triệu lượt khách trong năm 2025 cho thấy giao thông công cộng đang dần trở thành lựa chọn thực tế của người dân. Cùng với việc mở rộng Quốc lộ 51, làm hầm chui Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, các công trình này góp phần rút ngắn thời gian di chuyển và giảm áp lực lên những điểm nghẽn lâu năm.
Cầu Cần Giờ dài hơn 6km dự kiến hoàn thành năm 2029, thay thế phà Bình Khánh.
Tiến sĩ Võ Kim Cương, nguyên Phó kiến trúc sư trưởng TP.HCM, đánh giá hơn 50 năm qua, thành phố đã đạt nhiều thành tựu về hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, tốc độ phát triển và lưu lượng phương tiện vẫn vượt khả năng đáp ứng của hạ tầng. Theo ông, các ngõ vào trung tâm còn tình trạng “thắt cổ chai”, giao thông công cộng chưa đủ sức hút để phần đông người dân giảm sử dụng xe cá nhân. Vì vậy, hạ tầng đường bộ vẫn là trọng tâm, nhưng phải được đặt trong mối liên kết chặt chẽ với đường sắt đô thị.
Tư duy này đang thể hiện rõ trong mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng. Khi các tuyến metro hoạt động, khu vực quanh nhà ga có thể trở thành những trung tâm mới, kéo theo dịch chuyển dân cư, dịch vụ, thương mại và văn phòng. Nếu làm tốt, TP.HCM sẽ không chỉ giảm áp lực cho lõi cũ mà còn tạo ra các “điểm nén tăng trưởng” mới, nơi hạ tầng, dân cư và hoạt động kinh tế cùng phát triển theo một cấu trúc có kiểm soát.
Từ một lõi quá tải đến mạng lưới kinh tế đa cực
Điểm mới của TP.HCM sau hợp nhất nằm ở sự chuyển đổi từ mô hình “một lõi quá tải” sang mô hình “đa cực, đa trung tâm”. Trung tâm hiện hữu tiếp tục đảm nhiệm vai trò tài chính, thương mại, văn hóa và quản trị. Thành phố Thủ Đức là cực đổi mới sáng tạo, giáo dục đại học, công nghệ cao và kinh tế tri thức. Khu Bắc, Tây Bắc mở dư địa cho đô thị công nghiệp, logistics, nông nghiệp công nghệ cao. Khu Nam, Đông Nam gắn với cảng biển, kinh tế biển, du lịch sinh thái và chuỗi đô thị ven biển.
Trong cấu trúc đó, động lực lớn nhất không nằm ở diện tích lớn hơn, mà ở hiệu ứng tích hợp. Nhà đầu tư không chỉ nhìn vào một khu đất, một dự án hay một khu công nghiệp riêng lẻ, mà nhìn vào toàn bộ hệ sinh thái gồm cảng biển, sân bay Long Thành, vành đai, cao tốc, metro, nguồn nhân lực, thị trường tiêu dùng, trường đại học, bệnh viện, khu đô thị và chất lượng sống. Khi các yếu tố này được kết nối trong một không gian quản trị thống nhất, chi phí giao dịch giảm, tốc độ luân chuyển hàng hóa tăng, khả năng thu hút vốn dài hạn cao hơn.
Đó cũng là logic của những vùng đô thị thành công. TP.HCM trong giai đoạn mới không cạnh tranh bằng một trung tâm đơn lẻ, mà bằng mạng lưới đô thị, hạ tầng và dịch vụ. Trong tầm nhìn 10 đến 20 năm tới, khi Thủ Thiêm, metro và cảng Cần Giờ cùng vận hành, thành phố có thể hình thành một hệ sinh thái kinh tế đa tầng. Cảng Cần Giờ đóng vai trò cửa ngõ trung chuyển; Thủ Thiêm là trung tâm tài chính, dịch vụ cao cấp, công nghệ và quản trị; metro là xương sống kết nối không gian đô thị, lao động và dịch vụ.
Sự giao thoa giữa logistics, tài chính và công nghệ cũng mở ra cơ hội lớn cho đổi mới sáng tạo. Các doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tìm thấy dư địa trong những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo cho vận tải, kho bãi; fintech cho thương mại quốc tế; công nghệ quản lý đô thị thông minh; dữ liệu cho quy hoạch và vận hành hạ tầng. Đây chính là phần “kinh tế mới” mà siêu đô thị vùng có thể tạo ra, không chỉ dựa vào đất đai hay công nghiệp truyền thống, mà dựa vào năng suất, kết nối và chất lượng quản trị.
Các chỉ số kinh tế ban đầu cho thấy dư địa này không nhỏ. Năm 2025, GRDP TP.HCM ước tăng 8,03%, quy mô đạt 2,74 triệu tỉ đồng, chiếm 23,5% GDP cả nước. Thu ngân sách ước đạt 748.438 tỉ đồng, FDI đạt 8,16 tỉ USD, tăng 21,1%. Quý I/2026, GRDP tăng 8,27%, mức cao nhất trong 5 năm; dịch vụ tăng 8,91%, đóng góp 56% vào mức tăng GRDP. Đáng chú ý, vận tải, kho bãi tăng 12,18%, cho thấy vai trò ngày càng lớn của logistics trong cấu trúc kinh tế thành phố.
Tuy nhiên, mở rộng không gian không tự động tạo ra phát triển. Một siêu đô thị có thể trở thành động lực quốc gia, nhưng cũng có thể rơi vào tình trạng phân mảnh nếu thiếu điều phối. Rủi ro đầu tiên là hạ tầng đi sau đô thị hóa, khiến đường vành đai, metro, cảng cạn, logistics, thoát nước, xử lý rác, cấp nước, nhà ở xã hội tiếp tục bị động. Rủi ro thứ hai là cạnh tranh nội vùng, khi nơi nào cũng muốn làm trung tâm tài chính, logistics, công nghệ, dẫn tới đầu tư dàn trải. Rủi ro thứ ba là bất bình đẳng không gian, khi trung tâm hưởng dịch vụ cao cấp còn vùng ven gánh nhà ở giá rẻ, khu công nghiệp, ô nhiễm và thiếu tiện ích.
Vì vậy, chìa khóa của TP.HCM trong giai đoạn mới là quản trị vùng. Thành phố cần cơ chế đủ mạnh để phân vai chức năng giữa các cực phát triển, ưu tiên vốn cho hạ tầng chiến lược, kiểm soát phát triển bất động sản theo giao thông công cộng và bảo đảm nơi nào có khu công nghiệp, logistics, đô thị mới thì nơi đó phải có nhà ở công nhân, trường học, y tế, không gian xanh và giao thông công cộng tương ứng.
PGS.TS Trần Hoàng Ngân cho rằng TP.HCM đã có nhiều nghị quyết tháo gỡ điểm nghẽn như Nghị quyết 54 năm 2017, Nghị quyết 98 năm 2023 với 44 cơ chế, chính sách đặc thù cho 7 lĩnh vực và Nghị quyết 260 năm 2025. Tuy nhiên, các cơ chế này vẫn mang tính ngắn hạn. Thành phố cần một thể chế ổn định lâu dài để khai thác các động lực tăng trưởng sau hợp nhất.
Sau hợp nhất, TP.HCM đứng trước cơ hội xây dựng một siêu đô thị vùng có sức cạnh tranh quốc tế. Nhưng cơ hội ấy chỉ trở thành hiện thực nếu thành phố không chỉ mở rộng bản đồ, mà còn mở rộng năng lực điều phối, kết nối và tạo ra giá trị mới. Khi hạ tầng đi trước, thể chế dẫn đường và các cực phát triển được phân vai rõ ràng, TP.HCM có thể bước vào chu kỳ tăng trưởng nhanh hơn, bền vững hơn và có sức lan tỏa lớn hơn cho cả vùng Đông Nam Bộ.
Nguyễn Tuyết