Phát triển giao thông đường sắt đô thị
Tàu metro Bên Thành - Suối Tiên tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Thạc Hiếu
Theo Trưởng Ban Quản lý Đường sắt đô thị TP. Hồ Chí Minh Phan Công Bằng, việc phát triển hệ thống metro của thành phố đang bước vào giai đoạn mang tính đột phá, bám sát các chủ trương lớn của Trung ương và địa phương.
Một trong những cơ sở quan trọng thúc đẩy lĩnh vực này là Nghị quyết số 188/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt để phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Nghị quyết được xem là “đòn bẩy” giúp tháo gỡ các điểm nghẽn tồn tại nhiều năm, đồng thời đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và triển khai các dự án.
Sau khi mở rộng không gian phát triển từ giữa năm 2025, quy mô mạng lưới đường sắt đô thị đã thay đổi đáng kể. Từ mức hơn 500km theo quy hoạch trước đây, tổng nhu cầu đầu tư hiện tăng lên khoảng 1.027km, đặt ra yêu cầu điều chỉnh mục tiêu và lộ trình theo hướng tập trung, ưu tiên và quyết liệt hơn.
Theo tính toán, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 183km, đến năm 2035 đạt khoảng 464km và đến năm 2045 hướng tới 700km đường sắt đô thị. Đây là mục tiêu lớn, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị cùng cơ chế đủ mạnh.
Việc điều chỉnh quy mô không chỉ phản ánh nhu cầu phát triển thực tế mà còn cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với hạ tầng giao thông đô thị. Trong bối cảnh dân số tăng nhanh, không gian đô thị mở rộng, áp lực lên hạ tầng giao thông ngày càng lớn. Vì vậy, phát triển mạng lưới đường sắt đô thị được xác định là giải pháp căn cơ nhằm giảm phụ thuộc vào phương tiện cá nhân, hướng tới hệ thống giao thông bền vững.
Đẩy nhanh tiến độ, huy động nguồn lực phát triển hệ thống metro
Bản đồ các tuyến đường sắt đô thị (metro) tại TP. Hồ Chí Minh và phối cảnh tuyến Metro số 2 (Bến Thành – Tham Lương)
Để đáp ứng yêu cầu phát triển, TP. Hồ Chí Minh đã xác định các tuyến ưu tiên đầu tư trước, bao gồm các tuyến kết nối trung tâm với khu đô thị mới Thủ Thiêm, khu công nghệ cao và các trục giao thông lớn, tạo “xương sống” cho hệ thống vận tải công cộng khối lượng lớn.
Thành phố cũng chuyển từ cách làm thận trọng sang triển khai với cường độ cao, tăng tốc ở nhiều khâu. Nhiều đợt cao điểm đã được tổ chức như “50 ngày đêm” đối với tuyến metro số 1 và “62 ngày đêm” đối với tuyến metro số 2 nhằm đẩy nhanh tiến độ và tháo gỡ vướng mắc.
Trong công tác giải phóng mặt bằng, dù các dự án có ảnh hưởng nhất định đến đời sống người dân, song thành phố đã nhận được sự đồng thuận và ủng hộ lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình triển khai.
Về nguồn lực, nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống metro là rất lớn, với mức huy động hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm trong giai đoạn tới. Ngoài nguồn vốn đầu tư công, thành phố đang tích cực thu hút nguồn lực xã hội hóa, với sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đối với các tuyến kết nối trung tâm và các đô thị vệ tinh.
Tuy vậy, quá trình triển khai vẫn còn một số khó khăn như vướng mắc hợp đồng, yêu cầu kỹ thuật cao và tiến độ giải ngân. Thành phố kỳ vọng tiếp tục nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan Trung ương và sự đồng hành của doanh nghiệp để tháo gỡ kịp thời.
Với các giải pháp đồng bộ, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu phát triển hệ thống đường sắt đô thị quy mô lớn trong những năm tới, góp phần giải quyết ùn tắc giao thông, nâng cao chất lượng sống và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Ngọc Vân