TP Hồ Chí Minh phát triển trung tâm hàng hải - logistics tầm cỡ khu vực

TP Hồ Chí Minh phát triển trung tâm hàng hải - logistics tầm cỡ khu vực
6 giờ trướcBài gốc
Hình thành trục tam giác hàng hải - hàng không - công nghiệp
Theo đề án xây dựng thành phố trở thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực vừa được UBND TP Hồ Chí Minh ban hành, trong giai đoạn 2010-2024, vận tải kho bãi và logistics của TP Hồ Chí Minh duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 13%/năm, riêng khu vực TP Hồ Chí Minh cũ đạt tới 15%/năm. Năm 2024, tức năm cuối cùng trước khi sáp nhập, tổng giá trị gia tăng ngành đạt khoảng 150.000 tỷ đồng, chiếm 7% GRDP toàn thành phố và đóng góp 15% GRDP khu vực dịch vụ.
Một góc cảng Cát Lái, TP Hồ Chí Minh.
Sau sắp xếp địa giới, TP Hồ Chí Minh hình thành một không gian logistics liên hoàn, tích hợp đầy đủ cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, trung tâm công nghiệp và hệ thống ICD, kho bãi quy mô lớn. Nếu như trước đây TP Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại - dịch vụ và đầu mối logistics; Bình Dương nổi bật với hệ thống khu công nghiệp, ga Sóng Thần và mạng lưới kho bãi; Bà Rịa - Vũng Tàu giữ vai trò chiến lược với cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải có khả năng tiếp nhận tàu trên 200.000 DWT, thì nay các lợi thế đó được tích hợp trong một chỉnh thể thống nhất. Trục tam giác Long Thành - Cái Mép - Tân Sơn Nhất cùng các tuyến cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, Bến Lức - Long Thành, Biên Hòa - Vũng Tàu, Mỹ Phước - Tân Vạn… tạo nên mạng lưới kết nối đa phương thức. Hệ thống này giúp rút ngắn thời gian vận chuyển, giảm chi phí logistics - yếu tố vốn chiếm tỷ trọng cao trong giá thành hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
Theo S&P Global (Tập đoàn đa quốc gia tổ chức các hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin và dữ liệu tài chính), quy mô thị trường logistics toàn cầu dự kiến đạt 14.000 tỷ USD vào năm 2030 và 36.000 tỷ USD vào năm 2050. Đáng chú ý, ASEAN được dự báo có tốc độ tăng trưởng cao nhất, đạt khoảng 7,7%/năm, quy mô 800 tỷ USD vào năm 2030. Việt Nam được nhận định là một trong những quốc gia hưởng lợi lớn nhất từ xu hướng này, với tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu trung bình 6,4%/năm giai đoạn 2022-2030 và tăng thêm 7,5 triệu TEU. Động lực đến từ sự gia tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, dòng vốn FDI ổn định và hệ thống cảng biển, hàng không ngày càng hoàn thiện.
Trong bối cảnh đó, dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, cùng với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải và sân bay Long Thành, được kỳ vọng tạo cú hích chiến lược. Nếu được triển khai đồng bộ, TP Hồ Chí Minh có thể cạnh tranh trực tiếp với các trung tâm trung chuyển lớn trong khu vực như Singapore hay Klang (Malaysia).
Cơ hội và thách thức đan xen
Tuy có nhiều lợi thế, nhưng theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh hiện có khoảng 12.700 doanh nghiệp logistics, chiếm hơn 40% tổng số doanh nghiệp logistics cả nước. Tuy nhiên, khoảng 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, chủ yếu cung cấp dịch vụ truyền thống như vận tải, kho bãi, giao nhận. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI tuy số lượng hạn chế nhưng lại nắm giữ các dịch vụ giá trị gia tăng cao như quản lý chuỗi cung ứng, 3PL (logistic bên thứ 3), 4PL (logistic bên thứ 4)… Thực tế này cho thấy, khi chưa đủ sức tham gia sâu vào chuỗi cung ứng tích hợp, doanh nghiệp Việt Nam dễ rơi vào thế phụ thuộc vào các tập đoàn logistics nước ngoài.
Nguồn nhân lực cũng là vấn đề đáng lưu tâm, khu vực này hiện có khoảng 600.000 lao động logistics, chiếm gần 50% nhân lực logistics cả nước. Tuy nhiên, chỉ khoảng 5-7% được đào tạo bài bản chuyên ngành; phần lớn phải đào tạo lại từ các lĩnh vực khác. Trong khi đó, dự báo đến năm 2030, TP Hồ Chí Minh mở rộng sẽ cần bổ sung thêm 650.000-700.000 lao động, đặc biệt ở các lĩnh vực vận tải đa phương thức, công nghệ số và quản trị chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó, còn có thách thức không nhỏ khi lưu lượng hàng hóa tăng nhanh đang gây áp lực lớn lên các tuyến huyết mạch như quốc lộ 51, cao tốc TP Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, khu vực cảng Cát Lái, Hiệp Phước, Phú Mỹ - Cái Mép. Nguy cơ quá tải hạ tầng, ùn tắc và phát thải môi trường đòi hỏi giải pháp quản trị hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, IoT, Big Data để điều phối luồng hàng và phương tiện. Ngoài ra, việc đồng bộ hóa quy hoạch sau sáp nhập là yêu cầu cấp bách. Nếu không sớm thống nhất quy hoạch chung và cơ chế điều phối liên vùng, nguy cơ chồng chéo, cạnh tranh cục bộ giữa các cảng và trung tâm logistics hoàn toàn có thể xảy ra, làm suy giảm lợi thế tổng hợp.
Do đó, để hiện thực hóa mục tiêu nói trên, TP Hồ Chí Minh xác định ba trụ cột phát triển cần xây dựng và hoàn thiện là trung tâm cảng biển hiện đại; trung tâm logistics quy mô quốc gia, khu vực và trung tâm dịch vụ hàng hải và dịch vụ bổ trợ. Trong đó, việc quy hoạch chi tiết hệ thống cảng sau sắp xếp, hình thành chuỗi cảng thống nhất từ Cát Lái - Hiệp Phước đến Cái Mép - Thị Vải, gắn với mạng lưới ICD, trung tâm logistics hạng I, hạng II theo mô hình "rẻ quạt", sẽ quyết định hiệu quả vận hành toàn hệ thống. Song song đó là đẩy mạnh dịch vụ 3PL, 4PL, logistics cho thương mại điện tử, chuỗi lạnh và ứng dụng công nghệ thông minh trong quản trị.
Ở tầm vĩ mô, TP Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ và bộ ngành liên quan xây dựng tiêu chí phân cấp Trung tâm hàng hải quốc tế, trung tâm logistics hạng 1, 2; dành quỹ đất cho xây dựng các trung tâm hàng hải, trung tâm logistics mới, đồng thời, phát triển hạ tầng kết nối với các trung tâm logistics hiện hữu; chú trọng phát triển trung tâm logistics phục vụ cho hàng nội địa trong nội đô với vị trí phù hợp phục vụ cho nhu cầu người dân thành phố; nghiên cứu mô hình quản lý trung tâm kinh tế hàng hải và logistics đảm bảo tạo môi trường thông thoáng thu hút nhà đầu tư…
Phương Tuyền
Nguồn CAND : https://cand.com.vn/kinh-te/tp-ho-chi-minh-phat-trien-trung-tam-hang-hai-logistics-tam-co-khu-vuc-i797587/