Ảnh minh họa
Nhằm hiện thực hóa mục tiêu an sinh xã hội, TP. Hồ Chí Minh đang định hình lại chiến lược phát triển nhà ở xã hội với nhu cầu dự kiến khoảng 974.000 căn vào năm 2030. Thành phố đã triển khai nhiều giải pháp như cắt giảm thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình và chuẩn bị quỹ đất quy mô lớn cho phân khúc này.
Tuy nhiên, tại tọa đàm “Gỡ vướng để khơi thông nguồn cung nhà ở xã hội” vừa qua, doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng quá trình triển khai vẫn gặp không ít vướng mắc.
CẦN KHOẢNG 2.000 HA ĐẤT CHO NHÀ Ở XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2030
Từ góc nhìn quy hoạch tổng thể, ông Võ Trung Hưng, Phó phòng Quy hoạch - Kiến trúc thuộc Sở Quy hoạch - Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, cho biết đến năm 2030, nhu cầu nhà ở xã hội toàn TP. Hồ Chí Minh (sau sáp nhập) ước khoảng 974.000 căn, trong đó, nhóm công nhân chiếm khoảng 30%, còn lại là các đối tượng thụ hưởng khác.
Để đáp ứng nhu cầu rất lớn này, thành phố đã có 193 dự án nhà ở xã hội được phê duyệt đến năm 2030. Đồng thời, TP. Hồ Chí Minh xác định cần khoảng 1.700 - 2.000 ha quỹ đất dành riêng cho phát triển phân khúc này, qua đó đã kiến nghị bổ sung quỹ đất đến năm 2040 trong quá trình điều chỉnh Quy hoạch chung TP. Hồ Chí Minh tầm nhìn đến 2060, đồng thời, nghiên cứu mở rộng không gian phát triển sang các khu vực lân cận như Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu.
Theo ông Hưng, thách thức lớn nhất hiện nay là bài toán quỹ đất, đặc biệt tại các khu vực gần khu công nghiệp, khu chế xuất. Việc thiếu quỹ đất khiến phần lớn người lao động vẫn phải thuê trọ bên ngoài, trong khi cơ chế yêu cầu doanh nghiệp tự tạo lập quỹ đất để phát triển nhà ở xã hội vẫn còn nhiều vướng mắc trong thực thi.
Về tiến độ triển khai dự án, ông Nguyễn Văn Hoan, Phó phòng Phát triển đô thị Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh, cho biết từ đầu năm đến nay, Thành phố đã có 1 dự án hoàn thành với 580 căn hộ, 2 dự án khởi công trong quý 1 với 2.643 căn. Hiện toàn TP. Hồ Chí Minh có 12 dự án đang thi công với quy mô khoảng 10.300 căn.
Liên quan đến nguồn cung trong thời gian tới, ông Hoan cho biết Thành phố có 1 dự án đang bước vào giai đoạn lựa chọn chủ đầu tư với 2.259 căn, 3 dự án dự kiến khởi công trước ngày 30/4 với khoảng 4.600 căn, và 41 dự án khác dự kiến khởi công trước ngày 30/6 với quy mô khoảng 29.200 căn hộ.
Nhằm bảo đảm nguồn cung dài hạn, TP. Hồ Chí Minh cũng đã rà soát, bổ sung 16 khu đất mới tương đương khoảng 23.000 căn hộ. Trong giai đoạn 2026 - 2027, Thành phố dự kiến tập trung hoàn tất thủ tục đầu tư cho 72 dự án, với tổng quy mô khoảng 67.000 căn.
Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh đã tham mưu cắt giảm ít nhất 50% thủ tục hành chính trong lĩnh vực này, rút ngắn toàn bộ quy trình xuống còn khoảng 132 ngày. Thành phố cũng duy trì cơ chế họp định kỳ hàng tháng và thành lập tổ công tác chuyên trách do Giám đốc Sở Xây dựng làm tổ trưởng để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai dự án nhà ở xã hội.
ĐIỂM NGHẼN PHÁP LÝ VÀ TÍN DỤNG
Bên cạnh những chuyển động tích cực từ cơ quan quản lý và doanh nghiệp, phát triển nhà ở xã hội vẫn còn nhiều “điểm nghẽn”. Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP. Hồ Chí Minh (HoREA), cho rằng thực tiễn triển khai đang vướng chủ yếu ở tình trạng chồng chéo quy định và thủ tục hành chính kéo dài.
Theo ông Châu, nhiều doanh nghiệp phản ánh dù luật và nghị định đã mở hành lang pháp lý, nhưng khi áp dụng vào các văn bản hướng dẫn chi tiết lại thiếu đồng bộ, thậm chí “khóa lại” khả năng thực thi của chủ đầu tư. Hệ quả là không ít dự án sau khi đã được phê duyệt quy hoạch vẫn phải làm lại từ đầu các thủ tục cấp phép xây dựng, khiến thời gian triển khai kéo dài và làm mất cơ hội đầu tư. HoREA cho rằng đây là vấn đề cấp bách cần sớm được rà soát, điều chỉnh trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về nhà ở xã hội.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Lê Hữu Nghĩa, Tổng giám đốc Công ty Lê Thành, đánh giá việc UBND TP. Hồ Chí Minh thống nhất quy trình 7 bước làm dự án nhà ở xã hội (132 ngày với dự án tư nhân) là nỗ lực đáng ghi nhận. Tuy nhiên, nếu thực tế hoàn tất thủ tục mất gấp ba lần thời gian này đã là tích cực.
Ông Nghĩa cho biết các thủ tục như chấp thuận chủ trương đầu tư, thẩm định quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng đất hay cấp phép xây dựng đều phát sinh nhiều vướng mắc, phải qua nhiều khâu phối hợp giữa các sở ngành. Vì vậy, trước đây, thời gian triển khai dự án thường kéo dài 3 - 4 năm; hiện đã rút xuống khoảng 2 năm nhưng vẫn là thách thức lớn.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn gặp khó trong tiếp cận vốn khi giá bán nhà ở xã hội bị khống chế, ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính. Ông kiến nghị xem xét miễn một số thủ tục như nghiệm thu, kiểm toán, giấy phép xây dựng và cho phép tăng chỉ tiêu dân số để tạo dư địa triển khai dự án.
Ông Nghĩa chỉ ra “nút thắt” từ gói tín dụng 145.000 tỷ đồng dành cho nhà ở xã hội. Dù lãi suất ưu đãi khoảng 6,1%/năm và thời hạn vay dài, doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận khi ngân hàng lo ngại thua lỗ do chi phí vốn cao. Ngay cả khi doanh nghiệp đề xuất vay theo lãi suất thương mại, ngân hàng cũng e ngại rủi ro pháp lý. Thực tế này khiến nhiều dự án dù đã sẵn sàng vẫn phải trì hoãn do ách tắc dòng vốn.
Thiên Di