Mới đây, TAND TPHCM đã nhận được đơn kháng cáo bản án sơ thẩm lần 2 liên quan đến tranh chấp hợp đồng mua bán nhà trên đường Độc Lập, phường Phú Thọ Hòa, TPHCM. Đây là vụ việc từng được Báo Người Lao Động phản ánh.
Cách đánh giá chứng cứ trái ngược
Theo trình bày của ông P.Q.V., từ năm 2018, gia đình ông phát sinh các khoản vay lãi suất cao từ bà T.L.A. (bị đơn; cùng ngụ TPHCM). Đến ngày 15-6-2020, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà trên đường Độc Lập nhằm làm tài sản bảo đảm cho khoản vay với bà A.
Thực tế, gia đình ông V. gồm 11 người vẫn tiếp tục sinh sống, kinh doanh quán ăn tại căn nhà này, không có việc giao nhà hay thanh toán tiền mua bán. Ngược lại, bà A. khẳng định đây là giao dịch mua bán thật, bà đã thanh toán 17,2 tỉ đồng tiền mua nhà.
Việc giải ngân 17,2 tỉ đồng được bà A. sử dụng làm bằng chứng để khẳng định giao dịch mua bán là có thật. Ông V. thừa nhận dòng tiền có chảy qua tài khoản ông nhưng chỉ là một phần của giao dịch "giả cách" nhằm đảo nợ và ông đã phải rút tiền mặt để giao lại cho bà A. ngay sau đó.
Ông V. khai rằng chiều ngày 5-9-2019, tại ACB chi nhánh Cống Quỳnh, ông rút tiền mặt giao cho bà A. một phần và 10 tỉ đồng giao cho một người phụ nữ do bà A. chỉ định. Tại chi nhánh Cộng Hòa, ông tiếp tục giao số tiền còn lại cho một người phụ nữ khác.
Để củng cố lời khai về việc bà Lan Anh có mặt và chỉ đạo việc rút/giao tiền, ông V. đã yêu cầu tòa án thu thập chứng cứ là dữ liệu camera tại các chi nhánh ACB nêu trên trong khung giờ từ 15 đến 18 giờ ngày 5-9-2019. Tuy nhiên, ngân hàng phản hồi rằng dữ liệu camera thời điểm đó không còn lưu trữ.
TAND quận Tân Phú (cũ) xét xử sơ thẩm lần 1 (năm 2024), tuyên ông V. thắng kiện vì chứng minh được hợp đồng mua bán nhà là giả cách. Đến tòa sơ thẩm lần 2, TAND Khu vực 9 – TP HCM, lại công nhận hợp đồng mua bán là có thật, bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Theo hồ sơ, hai bên đã ký tới 3 hợp đồng mua bán, đặt cọc với 3 mức giá khác nhau. Hợp đồng đầu tiên ghi giá 19,2 tỉ đồng. Và bà A. sử dụng hợp đồng này để vay 17,2 tỉ đồng từ ACB.
Sau đó, hai bên tiếp tục ký hợp đồng thứ hai với giá trị lên tới 56 tỉ đồng. Hợp đồng này được lưu trong hồ sơ tín dụng khi bà A. vay vốn tại SCB (ông V. nói chỉ phát hiện việc bà A. dùng hợp đồng này vay vốn tại SCB khi vụ kiện xảy ra).
Hai bên còn tồn tại hợp đồng thứ ba trị giá 5 tỉ đồng (dùng để hoàn tất thủ tục sang tên căn nhà).
TAND quận Tân Phú cho rằng nếu 17,2 tỉ đồng là tiền mua nhà thật, thì không có lý do gì các bên lại ký thêm một hợp đồng đặt cọc 56 tỉ đồng và sau đó là hợp đồng chuyển nhượng chỉ 5 tỉ đồng.
Theo tòa, sự bất nhất về giá trị các hợp đồng cho thấy không phản ánh giá trị chuyển nhượng thực tế.
TAND Khu vực 9 xét xử sơ thẩm lần 2
Mặt khác, tại phiên tòa lần 1, bà A. thừa nhận việc ký 3 hợp đồng và lý giải rằng hạ giá xuống 5 tỉ đồng nhằm "giúp ông V. trốn thuế thu nhập cá nhân". Lập luận này bị bác bỏ khi cơ quan thuế xác nhận ông V. thuộc diện được miễn thuế do chuyển nhượng căn nhà duy nhất.
Hợp đồng 56 tỉ đồng trong hồ sơ tín dụng do SCB cung cấp được xem là chứng cứ quan trọng, giúp tòa sơ thẩm lần 1 kết luận giao dịch mua bán 5 tỉ đồng chỉ mang tính hình thức, nhằm che giấu việc vay nợ.
Tuy nhiên, sang sơ thẩm lần 2, bà A. thay đổi lời khai, phủ nhận hợp đồng 56 tỉ đồng và cho rằng chữ ký không phải của mình. Bà cũng đổi lý do hạ giá nhà, từ "giúp trốn thuế" sang việc căn nhà vướng quy hoạch, gần đường điện cao thế nên giá trị thực là 5 tỉ đồng. TAND Khu vực 9 chấp nhận lập luận này và bác bỏ chứng cứ từ SCB.
"Chiếm hữu thực tế" không được coi trọng
Ngoài các hợp đồng, ông V. còn cung cấp nhiều biên nhận chuyển tiền với nội dung "đóng lãi nhà đường Độc Lập" kéo dài đến tháng 2-2022. TAND quận Tân Phú xem đây là dấu hiệu của quan hệ vay mượn, khi người bán tiếp tục trả "lãi" trên căn nhà đã bán. Ngược lại, TAND Khu vực 9 cho rằng đây chỉ là ý chí một bên, không đủ căn cứ xác lập quan hệ vay nợ.
Đối với việc gia đình ông V. vẫn sinh sống, kinh doanh ổn định tại căn nhà suốt nhiều năm, chưa từng bàn giao cho bà A., tòa sơ thẩm lần 1 xem đây là "bằng chứng đắt giá" của giao dịch giả tạo. Ngược lại, tòa sơ thẩm lần 2 đánh giá đây chỉ là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên bán, không làm mất hiệu lực pháp lý của giao dịch mua bán.
Từ những nhận định trên, bản án sơ thẩm lần 2 đã bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V. Không đồng ý, ông V. đã kháng cáo toàn bộ bản án.
Trần Thái