Theo báo cáo nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), lượng năng lượng Trái đất nhận từ Mặt trời hiện cao hơn đáng kể so với lượng năng lượng phản xạ trở lại không gian. Khoảng chênh lệch này hiện ở mức lớn nhất kể từ khi các phép đo bắt đầu vào năm 1960. Điều đó có nghĩa là hành tinh đang giữ lại ngày càng nhiều nhiệt hơn, thay vì tỏa ra ngoài vũ trụ như trước đây.
Mặt trời lặn trên bãi biển Kuakata, Bangladesh. Nguồn: WMO/Ahnaf Ibne Nasir
Các nhà khoa học ví Trái đất giống như một căn phòng đang bật máy sưởi nhưng cửa sổ bị đóng kín. Nhiệt vẫn liên tục được đưa vào nhưng không thoát ra ngoài. Khí nhà kính trong khí quyển hoạt động giống như một lớp kính giữ nhiệt, khiến hành tinh mất khả năng tự làm mát.
“Nếu bạn mở cửa sổ, không khí nóng sẽ thoát ra ngoài. Nhưng hiện nay, do khí nhà kính, nhiệt ngày càng bị giữ lại nhiều hơn. Hành tinh gần như không còn cơ hội để tự làm mát”, nhà khoa học Akshay Deoras tại Trung tâm Khoa học Khí quyển Quốc gia Anh cho biết.
Nguyên nhân chính của sự mất cân bằng này là nồng độ khí nhà kính trong khí quyển đã tăng lên mức cao nhất trong ít nhất 800.000 năm. Carbon dioxide, methane và nitrous oxide đều đạt mức kỷ lục trong những năm gần đây. Các khí này giữ nhiệt trong khí quyển, làm giảm lượng năng lượng thoát ra ngoài không gian và khiến năng lượng tích tụ trong hệ thống khí hậu của Trái đất.
Trong điều kiện khí hậu ổn định, lượng năng lượng Trái đất nhận từ Mặt trời gần tương đương lượng năng lượng phản xạ trở lại không gian. Nhưng hiện nay, năng lượng đi vào nhiều hơn năng lượng đi ra. Phần năng lượng dư thừa đó không biến mất mà được lưu trữ trong đại dương, đất liền, băng và khí quyển.
Điều đáng chú ý là khoảng 90% lượng nhiệt dư thừa của Trái đất được đại dương hấp thụ. Điều này giải thích vì sao nhiệt độ không khí tăng chậm hơn so với lượng năng lượng tích tụ thực tế. Đại dương đang đóng vai trò như một “bộ pin nhiệt khổng lồ” của hành tinh, hấp thụ và lưu trữ phần lớn năng lượng dư thừa.
“Phần lớn năng lượng dư thừa được đại dương hấp thụ, khoảng 90% nhiệt lượng dư thừa trong hệ thống khí hậu đang nằm ở đại dương,” nhà khoa học John Kennedy của Tổ chức Khí tượng Thế giới cho biết.
Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với một vấn đề lớn hơn. Khi đại dương ấm lên, nước biển giãn nở và băng trên đất liền tan chảy nhanh hơn, dẫn đến mực nước biển dâng trong dài hạn. Đây là một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu, vì hàng trăm triệu người sống ở các vùng ven biển thấp.
Theo các báo cáo khí hậu của Liên hợp quốc, hơn 3 tỷ người trên thế giới phụ thuộc vào đại dương và tài nguyên ven biển để sinh sống. Khoảng 11% dân số toàn cầu sống ở các khu vực ven biển thấp, nơi dễ bị tổn thương bởi nước biển dâng, bão và xói lở bờ biển.
Trong khi đó, nhiệt tích tụ trong hệ thống khí hậu cũng làm tăng khả năng xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan như sóng nhiệt, bão mạnh, mưa lớn và hạn hán. Khi hệ thống khí hậu chứa nhiều năng lượng hơn, các hiện tượng thời tiết có xu hướng mạnh hơn và khó dự đoán hơn.
“Đôi khi các biểu đồ nhiệt độ riêng lẻ không kể hết toàn bộ câu chuyện. Mất cân bằng năng lượng mới cho thấy bức tranh đầy đủ về biến đổi khí hậu”, Ko Barrett, Phó Tổng Thư ký Tổ chức Khí tượng Thế giới, cho biết.
Một phát hiện đáng lo ngại khác là ngày càng nhiều nhiệt đang được phát hiện ở tầng nước sâu của đại dương, thay vì chỉ ở bề mặt. Ở độ sâu dưới 2.000 mét, nước biển có thể giữ nhiệt rất lâu và không trao đổi nhiệt nhanh với khí quyển. Điều này có nghĩa là ngay cả khi con người giảm phát thải khí nhà kính trong tương lai, lượng nhiệt đã tích tụ trong đại dương vẫn sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến khí hậu trong nhiều thế kỷ.
“Càng nhiều nhiệt bị giữ lại và không trao đổi với khí quyển, chúng ta càng tiến tới những thang thời gian của biến đổi khí hậu kéo dài từ 400 đến 1.000 năm”, nhà khoa học Karina Von Schuckmann cho biết.
Báo cáo cũng nhận định trong 11 năm qua, thế giới đã trải qua giai đoạn nóng nhất kể từ khi có số liệu ghi nhận. Năm 2024 được ghi nhận là năm nóng nhất trong lịch sử đo đạc, với nhiệt độ trung bình toàn cầu cao hơn khoảng 1,55 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Đại dương cũng ghi nhận mức nhiệt cao kỷ lục, cho thấy lượng năng lượng dư thừa trong hệ thống khí hậu đang tiếp tục tăng.
Các nhà khoa học cho rằng điều quan trọng hiện nay là theo dõi chỉ số mất cân bằng năng lượng của Trái đất thay vì chỉ nhìn vào nhiệt độ không khí. Nhiệt độ có thể dao động theo từng năm do các hiện tượng tự nhiên như El Ninõ hoặc La Ninã, nhưng năng lượng tích tụ trong hệ thống khí hậu mới phản ánh chính xác xu hướng nóng lên dài hạn của hành tinh.
Nói cách khác, vấn đề của Trái đất không chỉ là nhiệt độ tăng, mà là năng lượng đang tích tụ. Và khi năng lượng đã tích tụ trong đại dương, rất khó để đảo ngược quá trình này trong thời gian ngắn.
Biến đổi khí hậu vì vậy không còn là câu chuyện của tương lai xa. Nó đã và đang diễn ra, và một phần tác động có thể kéo dài trong nhiều thế kỷ do lượng nhiệt đã tích tụ trong đại dương sâu. Điều con người có thể làm lúc này không chỉ là giảm phát thải để hạn chế mức độ nóng lên, mà còn phải thích ứng với một thế giới có nhiều rủi ro khí hậu hơn, từ nước biển dâng đến thời tiết cực đoan.
Trái đất không chỉ đang nóng lên. Trái đất đang tích nhiệt. Và đó mới là vấn đề lớn nhất.
Ngọc Lâm