Ngày đầu đến đây, tôi có phần ngạc nhiên. Trước khi bắt đầu hành trình, tôi luôn mường tượng về Ấn Độ với không khí nóng nực, bụi bặm đặc quánh như vẫn thường nghe đề cập trên tivi, báo chí hay qua lời kể. Thực tế thì khác. Hơn nửa tháng trên đất Ấn, chứng viêm xoang trầm kha của tôi lại chẳng trở nặng như suy đoán ban đầu, ngoại trừ chuyện sụt sịt mỗi khi ngủ dậy vì lạnh. Chỉ vậy thôi.
Chúng tôi rảo bộ từ khách sạn đến khu vực Bồ Đề Đạo Tràng cách đó khoảng chưa đầy một cây số. Con đường men theo khu phố chợ, ban ngày lúc nào cũng đông đúc tấp nập, giờ đây im lìm trong giấc ngủ. Ánh đèn đường vàng vọt ẩn trong những tàng cây rậm rạp hai bên, hắt xuống đường đi một thứ ánh sáng yếu ớt. Thỉnh thoảng những người lái xe lôi lướt ngang bấm còi vẫy tay mời chào rồi nhanh chóng vọt đi sau cái lắc đầu quả quyết.
Vòng qua khúc quanh của cung đường chợ, khi chỉ còn cách Bồ Đề Đạo Tràng không bao xa, đỉnh tháp Đại Giác hiện lên, vượt trên vòm lá. Giữa màn đêm tối thẫm, đỉnh tháp được chiếu sáng bằng ánh đèn hồng nổi bật. Ngọn tháp đã biết bao lần tôi được nghe nhắc đến, hay ngắm những tấm ảnh chụp thỉnh thoảng được phát cho Phật tử ở chùa, từ khi còn nhỏ, là nơi đánh dấu sự kiện Đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo. Sự kiện vĩ đại gắn liền với một con người vĩ đại. Đêm hôm trước, khi lần đầu đi dạo phố chợ, ngước lên nhìn ngọn tháp sáng rực trên vòm lá, nỗi xúc động khó tả đã dậy lên trong lòng tôi. Trước đó, chưa bao giờ tôi từng nghĩ đến việc sẽ có ngày mình được đứng tại đây, nơi Ngài thành đạo, cũng chưa bao giờ nghĩ đến việc mình sẽ lên đường đi Ấn Độ. Mọi thứ đến, quả thật, như một nhân duyên kỳ diệu.
Chúng tôi xếp hàng đợi trước cửa soi chiếu an ninh. Muốn vào khu vực phía trong Bồ Đề Đạo Tràng phải đi qua đến tận hai lần kiểm tra an ninh như vậy, mọi thứ đồ điện tử phải bỏ lại hết bên ngoài, trừ máy ảnh. Nhưng ai muốn mang được máy ảnh vào cũng phải mua vé với giá 100 rupee. Khi chúng tôi đến nơi, đã có khá nhiều người đứng xếp hàng chờ. Tăng có, tục có, đủ mọi sắc áo, màu da. Có nhà sư đắp y màu măng cụt theo kiểu Miến Điện, có vị lại đắp y theo kiểu Thái Lan, rồi các nhà sư Tây Tạng với màu y đỏ đặc trưng,… Mỗi người hành hương đến đây mang theo một ngôn ngữ, văn hóa hay một lối hành trì khác biệt. Đôi khi, họ chào hỏi với nhau bằng tiếng Anh hoặc ngôn ngữ tương đồng, hoặc có khi chỉ giao tiếp nhau ở chung một điểm: nụ cười.
Tiếng nói xì xồ từ phía xa vẳng tới. Trên con đường tối hun hút bên trong khu vực Bồ Đề Đạo Tràng, bóng dáng một người đàn ông lớn tuổi đang rảo bước về phía chúng tôi. Nhìn vào kiểu cách ăn mặc và nhân diện lờ mờ trong ánh đèn đường, tôi đoán được ông là người Tạng. Ở Bồ Đề Đạo Tràng lẫn nhiều thánh tích Phật giáo khác, không khó để bắt gặp những người Tạng đi hành hương hoặc làm việc ngay tại đó. Những thánh tích Phật giáo trên đất Ấn cũng mang nhiều dấu ấn của Phật giáo Tạng, ở điểm này hay điểm khác. Đơn cử như việc đi đến đâu, chúng ta cũng có thể bắt gặp những lá cờ lungta nhiều màu sắc bay chấp chới trong gió.
Ông già người Tạng đi gần đến chỗ chúng tôi thì cười vẫy tay chào bằng câu tiếng Tạng với ai đó quen biết trong đám đông (hay là ông chào chung chung tất cả mọi người cũng không biết nữa). Bấy giờ dưới ánh đèn sáng, tôi mới nhìn được ông rõ hơn. Ông mặc bộ đồ bạc màu, đeo túi chéo, một tay cầm chuỗi hạt, một tay xách theo vật gì đó giống như cái bếp lò, chứa than đỏ bên trong. Nhìn cái bếp ấy, chả hiểu sao, tôi bất giác nhớ tới cái bếp lò của những bà bán bánh mì dạo ở quê tôi hay xách theo, bụng bỗng sôi một tiếng “rột”.
Ông già người Tạng đi qua chỗ chúng tôi, hướng về phía cổng. Tôi ngoái nhìn theo. Đi đến chỗ trụ cổng đá có tạc hình Pháp luân trên đỉnh ở đầu lối vào Bồ Đề Đạo Tràng, ông dừng lại, đặt bếp lò lên bệ trụ, vươn vai rồi chắp tay lại lầm rầm. Xong đâu đó, ông mở túi, móc ra một nắm hỗn hợp không rõ là gì thả vào bếp lò. Khói bốc lên. Không gian bỗng tràn ngập hương thơm. Một hương thơm thanh thoát đến lạ kỳ. Mùi của một loại gỗ chứa tinh dầu, đúng rồi?! Mùi của các loại thảo mộc phơi khô, cũng đúng?! Mùi của một loại bột hương, có lẽ vậy?! Một phức hợp hương thơm nhiều tầng lớp, ấm áp nhưng nhẹ bẫng vụt qua, rồi ngưng đọng, trôi bồng bềnh trong hơi lạnh mùa xuân. Hương thơm mênh mang, tưởng như bay về từ trong cô tịch, nơi có những đỉnh núi tuyết xa xôi. Tôi nhắm mắt hít một hơi thật sâu, hương thơm theo hơi lạnh len lỏi vào khứu giác, gợi nên những rung động và suy tưởng kỳ lạ.
Bất chợt tôi nhớ tới khung cảnh được mô tả ở đoạn mở đầu trong các bản kinh Đại thừa. Ấy là một hội chúng đông đảo các vị Thánh đệ tử của Phật, quốc vương, tể quan, các vị trời, các loài phi nhân... Khi Đức Phật thuyết pháp, từ trên cao, chư thiên hiện xuống rải hoa, tấu nhạc, tán hương cúng dường. Những đợt mưa hoa mạn-đà, mạn-thù, những khúc thiên nhạc, những tiếng chim ca-lăng, anh vũ, cộng mạng,… mà trong lịch sử, biết bao nghệ sĩ hữu danh lẫn vô danh đã cố công tái hiện lại bằng ngòi bút trên giấy, bằng mũi đục trên gỗ, trên đá. Nhưng làm sao người ta có thể tái hiện một huyền thoại hay trình hiện một mùi hương?
Ông già người Tạng xách chiếc bếp lò tỏa khói hương thơm ngát quay trở lại con đường cũ, nơi mà ông xuất hiện. Bóng dáng ông chìm dần vào trong bóng tối, khuất sau những bức tường cao của Bồ Đề Đạo Tràng. Chỉ có hương thơm cứ còn vấn vít tỏa lan.
Khi Đức Phật thuyết pháp, từ trên cao, chư thiên hiện xuống rải hoa, tấu nhạc, tán hương cúng dường. Những đợt mưa hoa mạn-đà, mạn-thù, những khúc thiên nhạc, những tiếng chim ca-lăng, anh vũ, cộng mạng,… mà trong lịch sử, biết bao nghệ sĩ hữu danh lẫn vô danh đã cố công tái hiện lại bằng ngòi bút trên giấy, bằng mũi đục trên gỗ, trên đá. Nhưng làm sao người ta có thể tái hiện một huyền thoại hay trình hiện một mùi hương?
Tiếng còi hiệu vang lên tít tít, tiếng băng chuyền của máy quét tư trang chạy rì rì, cửa mở, dòng người lần lượt qua cửa soi chiếu rồi tất tả chạy. Người trước người sau nối nhau chạy. Chúng tôi cũng chạy. Ban đầu, tôi tưởng người ta chạy vào để “xí” chỗ, vì theo lời một thầy trong đoàn chúng tôi, khu vực trong lòng tháp Đại Giác khá hẹp. Nhưng không. Chạy vài bước, ai cũng rảo bước chậm dần rồi thủng thẳng đi. Có người bỗng cười khanh khách. Chỉ vậy thôi. Hỏi qua hỏi lại, chẳng ai biết cuối cùng mục đích của việc chạy nhao nhác lúc đầu để làm gì. “Nhưng mà vui!”. Một người trong đám chúng tôi buột miệng. Ừ, thì cũng vui thật.
Bỏ dép vào một góc, bước từ trên bậc thềm đá lạnh xuôi xuống phía tháp Đại Giác, ánh sáng vàng rực từ trong lòng tháp hắt ra. Ánh sáng hoàng kim lồng lộng, bật lên trong đêm tối. Và ngự trị giữa vầng ánh sáng hoàng kim ấy, là kim thân Đức Phật. Đức Phật mỉm cười dõi mắt ra xa, nụ cười thật sống động. Giây phút bắt gặp nụ cười ấy, tôi khựng lại đôi chút, để đón nhận khoảnh xúc động phủ trùm lấy tâm trí mình. Phải, tôi đang đứng đây, trước Ngài, trong thời gian mà hơn hai ngàn năm trước, khi ánh sao mai vừa lóe, Ngài đã chạm tay vào chân lý.
Tôi ngồi vào một góc trong lòng tháp, mọi người lục tục kéo nhau vào, mỗi người tìm một chỗ ngồi. Tiếng xì xồ quen thuộc vọng vào. Ông già người Tạng ban nãy lại xuất hiện, khói hương xông lên nghi ngút trong lòng tháp. Ông chậm rãi rẽ qua hàng người, những vị sư đang đứng quanh trước án thờ bằng đá trước tôn tượng Đức Phật nhích ra xung quanh chừa chỗ cho ông. Đến trước án thờ, ông đặt lò hương xuống đất, quỳ gối, áp trán, đặt tay vịn lên cạnh bàn, rồi nhắm mắt lầm rầm đọc kinh. Khuôn mặt ông toát lên một vẻ thành kính vô biên. Xung quanh mọi người xì xồ tìm chỗ, dời chỗ, đi lại xá lạy rồi đi ra. Giữa đám đông có phần hơi ồn ã, ông già người Tạng vẫn quỳ như thế, mắt nhắm nghiền đọc kinh, bất động. Một lúc sau, ông đứng dậy, xách lò hương rời đi. Mùi hương còn quyện quanh lòng tháp.
Các vị sư nhanh chóng ngồi vào chỗ, một bình bát chứa đầy trái cây được đặt lên án thờ, phủ trùm một chiếc khăn khata lụa trắng. Tiếng gõ thử micro bụp bụp, tiếng xì xồ dần lắng xuống, rồi im bặt. Giọng vị sư chủ lễ ngân lên. Chư Tăng tiếp nối hòa giọng ngân lên.
“Namo Tassa Bhagavato…”
Nguyễn Cường/Báo Giác Ngộ