“Năm cô gái bên hoa” - tác phẩm trong triển lãm “Những ngày thảnh thơi” của họa sĩ Trần Nguyên Dũng.
Một cây cọ đặc biệt
Sinh năm 1942, là người gốc Hà Nội, Trần Nguyên Dũng chứng kiến nhiều biến đổi của thành phố. Bạn bè quen gọi ông bằng cái tên thân mật “Dũng đen Chợ Gạo”, gợi nhớ con phố nơi ông lớn lên và lưu giữ những ký ức đầu tiên nuôi dưỡng tình yêu hội họa. Cái tên ấy phần nào phản ánh “căn cước nghệ thuật” của ông, một họa sĩ Hà Nội không vẽ thành phố từ diện mạo bên ngoài mà từ những lớp ký ức và trải nghiệm của chính mình.
Thuở thiếu thời học vẽ tại xưởng Trí Tri của họa sĩ Lương Xuân Nhị, sau đó tiếp tục rèn luyện ở xưởng Sáng tạo của họa sĩ Phạm Viết Song, nên ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ hai người thầy của mình. Không đi qua con đường đào tạo hàn lâm, Trần Nguyên Dũng tích lũy nghề nghiệp bằng sự quan sát, học hỏi và lao động nghệ thuật bền bỉ.
Tác phẩm "Lễ hội xưa" (sơn mài - 2021).
Hơn 30 năm công tác trong lĩnh vực mỹ thuật Thủ đô với vai trò họa sĩ sáng tác tranh cổ động của Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội (nay là Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội) đã góp phần định hình ngôn ngữ tạo hình của Trần Nguyên Dũng: Bố cục chặt chẽ, mảng hình chắc, màu sắc giàu sức biểu cảm và tính khái quát cao.
Năm 1993, Trần Nguyên Dũng trở lại với hội họa giá vẽ, mở ra giai đoạn sáng tạo sung sức và giàu dấu ấn cá nhân. Có thể kể đến hai triển lãm cá nhân vào năm 1994 và 2002 tại Hà Nội, nhiều triển lãm nhóm trong nước, triển lãm nhóm tại Hàn Quốc năm 1998, tại Na Uy và Thụy Điển năm 2000. Tác phẩm của ông hiện được các nhà sưu tập tại Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam lưu giữ.
Tác phẩm "Lễ rằm chùa Bút Tháp" (sơn dầu - 2022).
Và một Hà Nội “thảnh thơi”...
Với hơn 60 tác phẩm thuộc nhiều chất liệu, triển lãm “Những ngày thảnh thơi” đưa người xem trở về thế giới hội họa rực rỡ mà sâu lắng của Trần Nguyên Dũng, nơi văn hóa Việt, đặc biệt là văn hóa Hà Nội, hiện lên qua hình ảnh phố cổ, thiếu nữ, hoa, lễ hội, âm nhạc truyền thống và những khoảnh khắc đời thường.
Và có thể nói tinh thần “thảnh thơi” đã tạo nên một Hà Nội rất riêng trong tranh của Trần Nguyên Dũng. Dường như với ông, nhịp sống thanh lịch, chậm rãi, thảnh thơi chính là điều làm nên chiều sâu văn hóa của đất kinh kỳ. Từ phố Hàng Bạc, ngõ Phất Lộc, đền Bạch Mã, chợ hoa Hàng Lược đến vườn hoa Nhật Tân, những địa danh quen thuộc hiện lên không như sự ghi chép địa lý mà như những lát cắt ký ức được chưng cất bằng màu sắc, ánh sáng và tình yêu bền bỉ dành cho Hà Nội.
Tác phẩm "Phố Hàng Mã" (sơn dầu - 2022).
Ở những bức tranh về phố cổ như “Phố Hàng Bè”, “Phố Hàng Bạc”, “Phố Hàng Mắm”, “Ngõ Phất Lộc”, “Phố xưa”..., bảng màu của Trần Nguyên Dũng thường thâm trầm. Mái nhà, hàng cây, xe đạp, gánh hàng và dáng những con người Hà Nội nhỏ bé được nén lại trong không gian bảng lảng của những con phố cũ. Bảng màu xanh lam, trắng, đen nâu tạo không khí trầm mặc, cổ kính; những chấm hồng, vàng, đỏ làm cho phố có những điểm bừng sáng như những đốm lửa.
Ngược lại với vẻ trầm mặc ấy là sự rực rỡ trong những bức tranh về phố và hoa Hà Nội những năm sau này, đặc biệt là “Vườn hoa Nhật Tân”, “Phố Hàng Mã”, “Chợ Bưởi ngày Tết”, “Hoa xuân ca”, “Trong vườn hoa”, “Trong vườn”... Cái rực rỡ trong tranh ông vẫn giữ được vẻ mềm mại, thanh nhã, đúng chất Hà thành.
Tác phẩm "Múa rồng 3" (sơn dầu - 1998).
Nếu Hà Nội là miền ký ức lớn, thì con người Hà Nội, đặc biệt là thiếu nữ, là hình tượng thẩm mỹ trở đi trở lại trong tranh Trần Nguyên Dũng. Những người thiếu nữ “Thưởng sen đầu hạ”, “Thưởng sen trong phòng”, “Trên ban công”, ở “Quầy hoa Bờ Hồ - Hàng Khay”, hay trong “Tết cổ truyền gia đình Hà Nội”... tạo nên tinh thần thảnh thơi rất riêng trong tranh ông - một trạng thái sống chậm, giữ cho đời sống một khoảng bình yên.
Một mảng đề tài nổi bật khác trong sáng tác của Trần Nguyên Dũng là lễ hội và văn hóa dân gian. Trong những bức tranh về múa rồng, hội làng hay cảnh đi lễ chùa, nghệ thuật của ông bùng lên bằng nguồn năng lượng thị giác mạnh mẽ. Đầu rồng, mặt nạ, cờ hội, nhạc cụ, mái đình, người múa, người xem hội được đặt trong bố cục rộn ràng, nhiều chuyển động. Màu sắc trở nên dữ dội hơn: Đỏ, vàng, xanh lam, tím, hồng, đen, trắng va đập trực tiếp. Tuy nhiên, ông không ghi chép lễ hội theo kiểu minh họa mà chuyển hóa lễ hội thành một trường màu, một nhịp điệu thị giác. Dân gian trong tranh ông vì thế sống động, phóng khoáng và mang tinh thần hiện đại.
Tác phẩm "Làng quê Việt Nam" (sơn mài - 1999).
Màu sắc là một trong những dấu ấn nổi bật nhất của Trần Nguyên Dũng dù là ở chất liệu nào: Sơn mài, sơn dầu, bột màu, lụa..., đặc biệt ở giai đoạn sau này. Ông sử dụng những gam màu mạnh, tương phản cao nhưng hiếm khi tạo cảm giác chói gắt. Hồng, xanh lam, vàng, tím, đỏ cam, xanh lục, trắng, đen được đặt cạnh nhau như những nốt nhạc.
Với nghệ thuật sơn mài, Trần Nguyên Dũng tìm thấy một chiều sâu khác của chất liệu. Những nền son, vàng, xanh thẫm, đen, trắng bạc cùng các lớp mài, vết xước, độ loang sần và ánh óng tạo nên cảm giác thời gian lắng đọng trên bề mặt tranh. Sơn mài giúp ký ức Việt trong tranh ông trở nên vừa lộng lẫy vừa trầm mặc. Đặc biệt trong các tranh lễ hội, đông đảo nhân vật, rồng, ngựa, kiệu, cờ, lọng, trống, kèn, người già, trẻ nhỏ, người bán hàng, người đi hội được tổ chức như một trường đoạn dân gian lớn.
Tác phẩm "Ngày rằm" (lụa - 1992).
Nhà phê bình mỹ thuật Nguyễn Hải Yến nhận xét, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ có phong cách đa dạng, ông đi gần với dân gian và lối biểu hiện, có thời điểm lại nghiêng về phía thủy mặc tối giản. Việc ông thoải mái qua lại giữa sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu và chất liệu tổng hợp khiến cho ông có sự tự do đáng quý của một nghệ sĩ.
Có thể nói, nghệ thuật Trần Nguyên Dũng nằm ở giao điểm giữa dân gian và hiện đại, giữa ký ức Hà Nội và cảm quan tạo hình đương đại. Ông lấy chất liệu từ đời sống và văn hóa Việt Nam nhưng không dừng lại ở việc lưu giữ hình ảnh quen thuộc mà tái tạo chúng bằng màu sắc, bố cục, bút pháp và nhịp điệu trang trí. Ông là người kể chuyện về văn hóa Việt bằng hội họa, nhưng trong câu chuyện rộng lớn ấy, Hà Nội vẫn là mạch nguồn sâu thẳm nhất: Thanh lịch, rực rỡ, lặng sâu và đầy thương nhớ.
Nguyệt Thơ