Nghề dệt lụa ở làng Cổ Chất, xã Ninh Giang.
Nghề ươm tơ ở làng Cổ Chất, xã Ninh Giang từng có thời gian dài phát triển với gần như toàn bộ số hộ dân trong làng đều tham gia làm nghề. Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường tơ công nghiệp, những năm gần đây, làng nghề đối mặt với nhiều khó khăn. Nhiều hộ sản xuất đã bỏ nghề vì thu nhập thấp, hiện cả làng chỉ còn khoảng hơn 30 hộ làm nghề.
Theo chia sẻ của những người làm nghề ở địa phương, nghề ươm tơ giờ gặp rất nhiều khó khăn về nguồn nguyên liệu và nhân lực. Khi các vùng trồng dâu, nuôi tằm không còn nhiều như trước, người dân phải tìm kiếm nguồn nguyên liệu khắp nơi, trong khi giá của tơ tăng khiến người sản xuất gặp khó khăn. Bên cạnh đó, để ươm tơ, dệt lụa, đòi hỏi phải trải qua rất nhiều công đoạn, tốn rất nhiều sức lao động thủ công.
Mỗi công đoạn đều yêu cầu sự tỉ mỉ và khéo léo của người làm, không phải ai cũng có thể thực hiện. Với mong muốn khôi phục lại thời hưng thịnh của làng nghề ươm tơ, dệt lụa, người dân Cổ Chất đã thay đổi tư duy, nhanh nhạy trong việc áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nhằm thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng cho sản phẩm. Tuy nhiên, lớp trẻ trong làng không còn mặn mà với nghề ươm tơ, dệt lụa của ông cha…
Từng là nghề mang lại thu nhập chính cho nhiều gia đình ở xóm Gòi Thượng, xã Bình An nhưng hiện nay nghề tre đan truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một. Nếu như trước đây hầu như nhà nào trong xóm cũng tham gia thì nay chỉ còn hơn 20 lao động, chủ yếu là người cao tuổi tiếp tục gắn bó với nghề.
Theo người dân địa phương, thời kỳ phát triển nhất của làng nghề cách đây hơn chục năm. Khi đó, các sản phẩm như thúng, nia, rổ, rá được tiêu thụ thuận lợi, cung cấp cho các công trường xây dựng, cơ sở sản xuất và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân trong vùng. Nhờ đó, nhiều hộ có nguồn thu nhập ổn định từ nghề truyền thống. Tuy nhiên, những năm gần đây, thị trường tiêu thụ thu hẹp, sản phẩm tre đan phải cạnh tranh với các mặt hàng nhựa có giá thành thấp, mẫu mã đa dạng và độ bền cao hơn. Trong khi đó, việc đổi mới thiết kế sản phẩm còn chậm, sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công nên năng suất không cao, thu nhập thấp. Chính vì vậy, nhiều lao động trẻ không mặn mà với nghề, lựa chọn làm việc tại doanh nghiệp hoặc tìm kiếm công việc khác có thu nhập ổn định hơn.
Sự thưa vắng của lực lượng lao động kế cận đang đặt nghề tre đan Gòi Thượng trước thách thức lớn. Khi những người thợ lâu năm dần lớn tuổi không có người tiếp nối, nguy cơ mai một một nghề truyền thống gắn bó với đời sống người dân địa phương qua nhiều thế hệ ngày càng hiện hữu.
Trên địa bàn tỉnh có không ít những làng nghề đứng trước nguy cơ bị mai một. Với sự phát triển của nền kinh tế và công nghiệp hiện đại, nhu cầu tiêu dùng thay đổi, các sản phẩm công nghiệp giá rẻ, tiện lợi thường được ưa chuộng hơn. Vấn đề tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm mở rộng thị trường và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm cũng là thách thức không nhỏ với người dân ở các làng nghề.
Bên cạnh đó, điều kiện làm việc tại các ngành nghề, làng nghề nông thôn còn nhiều khó khăn, thu nhập của người lao động thấp dẫn đến chưa thu hút người lao động, nhất là các lao động trẻ. Khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chủ yếu vẫn là sơ chế, giá trị gia tăng thấp. Công tác xây dựng và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu, hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ chưa thực sự được quan tâm dẫn đến tính cạnh tranh của sản phẩm không cao.
Toàn tỉnh hiện có 171 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP. Nhiều nghề đã tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm như đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren Văn Lâm, đan cói Kim Sơn, gốm Bồ Bát, trống Đọi Tam, ươm tơ Cổ Chất, bánh đa nem làng Chều, gỗ mỹ nghệ La Xuyên… Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, nhiều sản phẩm đã từng bước vươn ra thị trường quốc tế. Theo báo cáo của Chi cục Phát triển nông thôn, hiện lực lượng lao động trong các làng nghề lên tới gần 193.000 người, doanh thu hằng năm đạt hơn 25.000 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu khoảng 1.200 tỷ đồng.
Những năm qua ngoài cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề từ Trung ương, tỉnh Ninh Bình đã có nhiều giải pháp đem lại những hiệu quả nhất định. Các ngành, các địa phương đã chú trọng huy động mọi nguồn lực, đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế địa phương, trong đó có phát triển làng nghề. Đặc biệt, tháng 10/2025, UBND tỉnh Ninh Bình đã ban hành Kế hoạch Bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề năm 2026, với mục tiêu công nhận thêm 5-10 làng nghề mới, khôi phục ít nhất 2 làng nghề có nguy cơ mai một, đào tạo khoảng 300 lượt lao động, xây dựng thương hiệu, áp dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, phát triển du lịch làng nghề gắn với di sản và du lịch trải nghiệm.
Hiện tại, các địa phương đã chủ động lập và triển khai thực hiện quy hoạch đầu tư xây dựng hạ tầng các cụm, điểm công nghiệp tại các vị trí thuận lợi về hạ tầng giao thông, điện, nước nhằm tạo không gian phát triển theo hướng tập trung, đồng bộ cho các cơ sở, doanh nghiệp làng nghề.
Đồng thời, chú trọng thu hút các doanh nghiệp tham gia đầu tư sản xuất, kinh doanh các ngành nghề truyền thống và phát triển các làng nghề theo hướng tăng cường hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm; chủ động phát triển vùng nguyên liệu theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, an toàn lao động; đổi mới sáng tạo, phát triển sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó, việc định hướng xây dựng các sản phẩm OCOP ở các làng nghề gắn với các tiêu chí nâng cao chất lượng cho sản phẩm được xem là điểm tựa, là “trợ lực” để sản phẩm làng nghề, làng nghề truyền thống thay đổi mình, khẳng định được thương hiệu trên thị trường.
Sự mai một của các làng nghề truyền thống cũng đồng nghĩa với việc mất đi nét văn hóa lâu đời khiến nhiều người nuối tiếc. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề thủ công truyền thống đang được các cấp, các ngành coi là một trong những nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế nông thôn, đóng góp cho chương trình xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Bài, ảnh: Trần Hồng Minh