Triển khai Chiến lược phát triển ngành sữa đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Cần quy định tỷ lệ tối thiểu sử dụng sữa nguyên liệu trong nước

Triển khai Chiến lược phát triển ngành sữa đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Cần quy định tỷ lệ tối thiểu sử dụng sữa nguyên liệu trong nước
6 giờ trướcBài gốc
Mục tiêu cao nhưng khả thi
- Thưa ông, ông đánh giá thế nào về thời điểm ra đời cũng như ý nghĩa chiến lược của Quyết định 309/QĐ-TTg với sự phát triển của ngành sữa Việt Nam?
- Tôi cho rằng đây là một chiến lược rất kịp thời và mang tính toàn diện cao. Trong bài toán an ninh lương thực của một quốc gia, an ninh dinh dưỡng từ sữa đóng vai trò quan trọng, then chốt, nhất là với thể chất và tầm vóc của con người Việt Nam. Hiện nay, mức tiêu thụ sữa bình quân của người dân mới khoảng 25 lít/người/năm, trong khi tại nhiều quốc gia phát triển, con số này là trên 100 lít, có những nước đã lên tới 300 lít. Nếu không thúc đẩy tiêu thụ sữa, chúng ta khó thực hiện được mục tiêu cải thiện thể chất và tầm vóc người Việt.
Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam Nguyễn Xuân Dương
Điểm "sáng" nhất của Chiến lược là sự thay đổi căn bản về tư duy. Trước đây, nhắc đến ngành sữa, chúng ta thường chỉ chú trọng vào công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, Chiến lược lần này khẳng định phát triển ngành sữa phải dựa trên nền tảng sản xuất sữa nguyên liệu trong nước, với mục tiêu sữa tươi nguyên liệu trong nước đáp ứng từ 60% - 85% nhu cầu của ngành chế biến sữa tùy giai đoạn. Bài học từ các cường quốc sữa trên thế giới và ngay tại các nước của châu Á, Trung Đông vốn không phải là khu vực có lợi thế về chăn nuôi bò sữa, như Ấn Độ, Nhật Bản, Israel hay Pakistan cho thấy, gốc rễ của thành công ngành sữa luôn nằm ở năng lực chăn nuôi gia súc lấy sữa tại chỗ.
Tôi tán thành và đánh giá rất cao nội dung của Chiến lược khi đã bao quát toàn bộ các thành tố có liên quan đến ngành sữa của một quốc gia: từ sản xuất nguyên liệu, chế biến, đa dạng hóa sản phẩm, quản lý chất lượng sản phẩm, thay đổi thói quen tiêu dùng sữa. Chiến lược cũng giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành có liên quan bảo đảm cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, đây là yếu tố quyết định để triển khai đạt kết quả thực chất.
- Chiến lược đặt ra các mục tiêu rất cụ thể: đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành đạt 12 - 14%/năm, mức tiêu thụ 40 lít/người/năm; đến năm 2045, mức tiêu thụ đạt 100 lít/người/năm và nội địa hóa đến 85% nguyên liệu. Ông nhìn nhận thế nào về tính khả thi của mục tiêu này?
- Đây là các mục tiêu cao, đáp ứng yêu cầu phát triển, thể hiện khát vọng lớn, nhưng hoàn toàn khả thi nếu chúng ta có các giải pháp thật cụ thể, chặt chẽ, quyết liệt.
Thứ nhất, dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam từ năm 2026 sẽ duy trì ở mức từ 10%. Khi thu nhập tăng lên, nhu cầu thực phẩm cao cấp, đặc biệt là sữa, sẽ bùng nổ. Thứ hai, mục tiêu nâng mức tiêu thụ từ 25 lít lên 40 lít trong 5 năm tới và đạt 100 lít vào năm 2045 là lộ trình tất yếu để thực hiện chương trình quốc gia về nâng cao thể chất và tầm vóc Việt.
Về phía ngành chăn nuôi, đây chính là "cứu cánh" để khôi phục tốc độ tăng trưởng đàn bò sữa. Thực tế, sau giai đoạn tăng trưởng hai con số (15% giai đoạn 2010 - 2015), đàn bò sữa đang có dấu hiệu chững lại đáng báo động, chỉ còn tăng bình quân 0,4%/năm từ năm 2020 đến nay. Chiến lược này mở ra cơ hội để chúng ta tổ chức lại sản xuất theo hướng kinh tế xanh, tuần hoàn, từ đó tạo xung lực mới để tổng đàn bò phát triển mạnh mẽ trở lại.
Khơi thông nguồn lực từ chăn nuôi nông hộ và liên kết chuỗi giá trị
- Để đạt được sản lượng 2,6 triệu lít sữa tươi nguyên liệu/năm đến 2030, Chiến lược đặt ra giải pháp phát triển chăn nuôi bò sữa theo hướng tập trung tại doanh nghiệp kết hợp chăn nuôi nông hộ. Ông có thể phân tích rõ hơn về vai trò của nông hộ trong bài toán này?
- Cần nhấn mạnh rằng, nếu chỉ dựa vào đàn bò nuôi tập trung của các công ty, tập đoàn lớn thì không thể đạt được mục tiêu đề ra. Hiện nay cả nước có khoảng 350 nghìn con bò sữa, đạt trên 1,3 triệu tấn sữa/năm. Để có 2,6 triệu tấn sữa vào năm 2030, đàn bò phải tăng gấp đôi (khoảng 700 nghìn con). Đến năm 2045, để có 8 triệu tấn sữa nguyên liệu, chúng ta cần trên 2 triệu con bò sữa. Do đó, buộc phải phát triển chăn nuôi bò sữa trong nông hộ.
Việt Nam không có lợi thế nhiều về không gian diện tích đất trồng cỏ chăn nuôi bò sữa theo phương thức chăn thả, song có lợi thế về đa dạng sinh thái trong nông nghiệp, khả năng tăng sinh khối cao của cây cỏ nhiệt đới và có nguồn lao động nông nhàn trong nông thôn rất nhiều nên có thể phát triển đàn bò sữa nông hộ. Nhìn lại kinh nghiệm của TP. Hồ Chí Minh, lúc cao điểm chăn nuôi nông hộ tại đây đóng góp tới 60 - 70% tổng đàn bò sữa cả nước.
Để chăn nuôi nông hộ tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới, chúng ta phải đưa họ vào chuỗi liên kết: doanh nghiệp – hợp tác xã – nông hộ. Bởi sữa là mặt hàng đặc thù, nếu không được thu mua và chế biến ngay sẽ phải đổ bỏ. Trong chuỗi liên kết này, doanh nghiệp giữ vai trò hạt nhân chế biến và bao tiêu; hợp tác xã đóng vai trò trung gian thu gom, kiểm soát chất lượng; còn nông hộ tập trung sản xuất theo tiêu chuẩn. Khi đó, doanh nghiệp có nguyên liệu tươi sạch, nông dân có việc làm, thu nhập ổn định, và người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm tốt nhất ngay tại thị trường nội địa.
Song song đó, các địa phương cần phải quy hoạch rõ vùng chăn nuôi nông hộ tại các bãi ven sông lớn hoặc vùng trung du, đồi núi để người dân trồng cỏ, cây thức ăn và tổ chức chăn nuôi các loại gia súc cho sữa. Đây chính là cách phát triển bền vững và nhân văn nhất, tạo ra sinh kế cho hàng vạn gia đình.
- Xây dựng chuỗi giá trị là hướng đi đúng, nhưng làm thế nào để doanh nghiệp mặn mà với sữa tươi nội địa thay vì nhập khẩu bột sữa, thưa ông?
- Tôi cho rằng Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của các nước có điều kiện tương đồng nhưng ngành sữa rất phát triển nhờ chính sách bắt buộc hoặc khuyến khích.
Philippines yêu cầu các cơ sở chế biến phải sử dụng tối thiểu 5% lượng sữa trong nước. Doanh nghiệp nào sử dụng vượt tỷ lệ này sẽ được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đúng bằng tỷ lệ phần trăm sữa nội địa mà họ sử dụng. Indonesia quy định doanh nghiệp muốn kinh doanh sữa phải chứng minh được vùng nguyên liệu trong nước thông qua việc trực tiếp đầu tư hoặc ký hợp đồng bao tiêu với người chăn nuôi gia súc lấy sữa trong nước. Trung Quốc quy định tất cả các loại sữa thanh trùng, tiệt trùng phải được làm từ sữa tươi, gián tiếp bắt buộc các doanh nghiệp chế biến hai loại sản phẩm sữa chủ lực này phải sử dụng từ nguồn sữa tươi nguyên liệu trong nước...
Chúng ta cần sớm ban hành các quy phạm pháp luật theo hướng quy định tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc: doanh nghiệp phải sử dụng một tỷ lệ sữa tươi trong nước nhất định trong các sản phẩm sữa lỏng. Đồng thời, có chính sách ưu đãi rõ rệt về vốn, tín dụng và thuế cho các đơn vị thu mua sữa nội địa vượt tỷ lệ quy định.
Bên cạnh đó, cần minh bạch hóa thị trường bằng các bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng để phân biệt rạch ròi giữa "sữa tươi" và "sữa hoàn nguyên" (sữa bột pha lại). Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng mà còn tạo sự công bằng cho sữa tươi nội địa. Chương trình "Sữa học đường" cũng nên ưu tiên tối đa sử dụng sữa tươi nguyên liệu trong nước, vừa bảo đảm trẻ em có nguồn dinh dưỡng tốt nhất, vừa trực tiếp thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển.
- Xin cảm ơn ông!
Đan Thanh thực hiện
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/trien-khai-chien-luoc-phat-trien-nganh-sua-den-nam-2030-tam-nhin-2045-can-quy-dinh-ty-le-toi-thieu-su-dung-sua-nguyen-lieu-trong-nuoc-10408413.html