Đội ngũ nghệ nhân, người có uy tín, già làng, trưởng bản là lực lượng nòng cốt trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Ảnh: Bích Nguyên
Bảo tồn gắn với phát triển: Văn hóa trở thành nguồn lực
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy nhấn mạnh: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục khẳng định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong thời kỳ mới. Trong đó, văn hóa các dân tộc thiểu số mang đậm bản sắc, cần được tôn vinh, qua đó trở thành nguồn lực đóng góp cho phát triển bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bà Nguyễn Thị Hải Nhung, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, giai đoạn 2021-2025, công tác văn hóa dân tộc được triển khai trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, ban hành nhiều chủ trương, chính sách mang tính chiến lược, toàn diện và có tính kế thừa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ trì triển khai Dự án 6 “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”, đồng thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, tạo cơ sở để các địa phương tổ chức thực hiện thống nhất.
5 năm qua đánh dấu bước chuyển mạnh trong công tác văn hóa dân tộc. Nếu trước đây chủ yếu dừng ở bảo tồn mang tính “giữ gìn”, thì nay đã chuyển sang “bảo tồn gắn với phát triển”. Các chủ trương, chính sách đã tạo nền tảng quan trọng, định hướng rõ ràng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số; đồng thời từng bước hình thành cách tiếp cận mới, gắn kết chặt chẽ giữa văn hóa với phát triển kinh tế và sinh kế bền vững. Nhiều địa phương miền núi, biên giới đã bước đầu hình thành các mô hình du lịch văn hóa, nơi người dân vừa là chủ thể gìn giữ, vừa là người thụ hưởng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chỉ đạo phục dựng hơn 30 lễ hội truyền thống; thành lập hơn 20 câu lạc bộ sinh hoạt văn hóa dân gian tại các thôn vùng dân tộc thiểu số và khu tái định cư; xây dựng và đưa vào vận hành 45 mô hình bảo tồn văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch, bước đầu hình thành các sản phẩm văn hóa-du lịch đặc trưng. Đồng thời, Bộ triển khai 30 chương trình nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể, trong đó có 7 chương trình chuyên sâu đối với các dân tộc ít người, tập trung vào gìn giữ ngôn ngữ, trang phục, phong tục tập quán và tri thức dân gian, góp phần hạn chế nguy cơ mai một di sản. Các địa phương cũng đã hỗ trợ đầu tư phát triển 69 điểm đến du lịch tiêu biểu; hình thành và đưa vào hoạt động 48 làng, bản văn hóa truyền thống gắn với bảo tồn không gian văn hóa cộng đồng. Đồng thời, các địa phương bảo tồn, phục dựng trên 150 lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số. Nhiều lễ hội sau khi phục dựng không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, mà còn trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, song công tác bảo tồn văn hóa dân tộc còn không ít hạn chế. Nhiều mô hình bảo tồn vẫn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước, thiếu tính bền vững; việc gắn kết văn hóa với thị trường còn lúng túng. Công tác chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa dân tộc còn chậm, thiếu đồng bộ giữa các địa phương, chưa đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Ở cơ sở, đội ngũ cán bộ văn hóa còn mỏng, phần lớn kiêm nhiệm; năng lực tổ chức hoạt động còn hạn chế. Không ít giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một do tác động của kinh tế thị trường, đô thị hóa và sự thay đổi trong lối sống.
Đáng lưu ý, tại khu vực biên giới, điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, hạ tầng hạn chế khiến việc triển khai các chương trình bảo tồn gặp không ít trở ngại. Đây cũng là khu vực chịu tác động trực tiếp của giao lưu văn hóa xuyên biên giới; nếu thiếu định hướng phù hợp, rất dễ dẫn đến nguy cơ “hòa tan” bản sắc.
Khơi thông nguồn lực, phát huy vai trò chủ thể
Từ thực tiễn địa phương, ông Đinh Văn Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng cho rằng, cần phát huy vai trò chủ thể và tính sáng tạo của những người làm công tác bảo vệ di sản; đồng thời đổi mới công tác tuyên truyền nhằm giáo dục thế hệ trẻ, nâng cao nhận thức về giá trị lịch sử và văn hóa của lễ hội truyền thống, từ đó có giải pháp bảo tồn, phát huy lâu dài. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh huy động nguồn lực xã hội; đầu tư hệ thống thiết chế văn hóa; tăng cường phối hợp trong nghiên cứu, phục dựng lễ hội truyền thống.
Nhiều bản làng ở vùng cao, biên giới đã thành công khi kết hợp bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch. Ảnh: Bích Nguyên
Cùng quan điểm, ông Lại Vũ Hiệp, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai đề xuất các bộ, ngành Trung ương ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hóa, tạo điều kiện để nghệ nhân có môi trường thực hành di sản văn hóa phi vật thể mà họ đang nắm giữ. Qua đó, thúc đẩy sáng tạo văn hóa, đồng thời góp phần phát triển kinh tế-xã hội. Bên cạnh đó, cần mở rộng các diễn đàn giao lưu, liên kết vùng để các địa phương trao đổi kinh nghiệm, nhân rộng mô hình hiệu quả. Ông Hiệp kiến nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia và Dự án 6 trong giai đoạn tiếp theo. Đồng thời, đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội nghị, tập huấn ngay từ đầu giai đoạn để có hướng dẫn cụ thể, tạo cơ sở cho các địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Một điểm nhấn quan trọng được hội nghị đặt ra là tăng cường phối hợp liên ngành trong bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới.
Xác định mục tiêu dài hạn là kết hợp hài hòa giữa gìn giữ truyền thống với phát triển kinh tế, du lịch bền vững, qua đó nâng cao đời sống cho đồng bào các dân tộc, Thứ trưởng Trịnh Thị Thủy đã định hướng những nội dung công tác trong giai đoạn 2026-2031. Theo đó, cần hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, coi đây là “khâu đột phá” để tháo gỡ điểm nghẽn. Trọng tâm là tham mưu xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa cùng các văn bản hướng dẫn, tạo khung pháp lý đồng bộ. Đồng chí Thứ trưởng đề nghị các địa phương tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó có nhiệm vụ bảo tồn giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số; phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch cộng đồng trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. “Đây vừa là nhiệm vụ, vừa là mục tiêu, đồng thời cũng là giải pháp”-đồng chí Thứ trưởng nhấn mạnh.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng xác định một trong những nhiệm vụ then chốt là đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, chuyển đổi số được coi là yêu cầu mang tính sống còn. Việc số hóa dữ liệu văn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu về 54 dân tộc, ứng dụng công nghệ trong bảo tồn và quảng bá sẽ mở ra không gian phát triển mới, giúp văn hóa lan tỏa mạnh mẽ hơn trong thời đại số.
Bích Nguyên