Trục chiến lược định hình siêu đô thị TP.HCM sau mở rộng địa giới

Trục chiến lược định hình siêu đô thị TP.HCM sau mở rộng địa giới
5 giờ trướcBài gốc
TP.HCM mở rộng địa giới hành chính, không chỉ mở ra cơ hội phát triển với quy mô chưa từng có, mà còn đặt ra bài toán về quy hoạch, quản trị và liên kết vùng. Làm thế nào để tránh tình trạng “cơi nới hình thức”. Làm sao để phát triển hài hòa, không đánh mất bản sắc vùng miền. Và đâu là trục phát triển chiến lược giúp đại đô thị này “lớn lên về chất”, chứ không chỉ đơn thuần mở rộng địa giới.
Tiến sĩ khoa học, kiến trúc sư (TSKH.KTS.) Ngô Viết Nam Sơn, chuyên gia quy hoạch đô thị giàu kinh nghiệm từng tham gia tư vấn cho nhiều thành phố lớn trong và ngoài nước, đã chia sẻ góc nhìn chiến lược về 10 nguyên lý cốt lõi cần đảm bảo trong quy hoạch tổng thể, mô hình điều phối vùng sau sáp nhập, cùng những bài học đắt giá từ các siêu đô thị quốc tế. Đây là một bản thiết kế tư duy không chỉ về không gian đô thị mà còn về triết lý phát triển nhằm kiến tạo một TP.HCM mở rộng hiện đại, hiệu quả và mang bản sắc vùng miền rõ nét, đủ sức cạnh tranh trong dài hạn.
Tầm nhìn và triết lý quy hoạch
Sau khi TP.HCM chính thức mở rộng địa giới hành chính, theo ông, đâu là những nguyên lý cốt lõi cần được đặt ra trong quy hoạch tổng thể để tránh tình trạng “cơi nới hình thức”, thiếu kiểm soát và làm lu mờ bản sắc đô thị?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Việc mở rộng địa giới hành của TP.HCM bao gồm tỉnh Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) là một bước chuyển lớn, có thể tạo ra một siêu đô thị tầm cỡ khu vực châu Á. Tuy nhiên, để quá trình này không rơi vào tình trạng “cơi nới hình thức”, phát triển thiếu kiểm soát hay đánh mất bản sắc đô thị, chúng ta cần xây dựng một quy hoạch tổng thể dựa trên 10 nguyên lý cốt lõi, mang tính nền tảng và lâu dài.
Trước hết, tổ chức không gian đô thị phải dựa trên nguyên lý phát triển hài hòa theo chức năng, trong đó TP.HCM (cũ) đóng vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ, sáng tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao; Bình Dương (cũ) giữ vị trí chủ lực về công nghiệp và công nghệ cao; còn Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) là đầu mối cảng biển, năng lượng, du lịch. Ba cực này cần liên kết bổ trợ, kết nối logistics hiệu quả, không cạnh tranh lẫn nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất về chức năng lẫn tầm nhìn.
Thứ hai, quy hoạch tiểu vùng siêu đô thị phải tích hợp và liên thông, tránh tư duy theo địa giới hành chính hay ghép nối cơ học. Chúng ta cần nhìn nhận toàn khu vực như một cơ thể sống, nơi mọi dòng chảy liên thông về hạ tầng, dân cư, kinh tế vận hành nhịp nhàng và đồng bộ.
Thứ ba, hệ thống hạ tầng giao thông và logistics cần được đầu tư theo hướng đột phá kinh tế biển, tạo kết nối xuyên suốt không chỉ theo trục ngang giữa các địa phương mà còn theo trục dọc hướng ra cảng biển, sân bay và cửa khẩu quốc tế. Đây chính là nền móng để liên kết vùng siêu đô thị trở thành hiện thực, chứ không chỉ tồn tại trên bản vẽ.
Thứ tư, chính quyền sau sáp nhập phải được tổ chức theo mô hình quản trị số, minh bạch, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong điều hành, thay vì tiếp tục vận hành bằng cơ chế hành chính truyền thống vốn kém hiệu quả và thiếu linh hoạt.
Thứ năm, quy hoạch cần mở rộng tầm nhìn theo hướng hình thành các hệ sinh thái phát triển các chuỗi giá trị xuyên tỉnh, như công nghiệp xanh, đô thị thông minh, năng lượng tái tạo và dịch vụ logistics cao cấp, đồng thời gắn với các trung tâm cảng biển và cảng hàng không quốc tế.
Thứ sáu, mọi quyết sách phát triển phải đặt con người làm trung tâm, hài hòa được lợi ích chung của tập thể với lợi ích của từng cá nhân, với nhu cầu đa dạng khác nhau. Điều đó thể hiện ở việc nâng cao chất lượng dịch vụ công, mở rộng không gian sống, tạo cơ hội phát triển bình đẳng và cung ứng đầy đủ tiện ích xã hội cần thiết, phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế người dân.
Thứ bảy, toàn bộ việc quản lý đất đai, tài nguyên và không gian phát triển cần được vận hành trên nền tảng dữ liệu số thống nhất, cập nhật theo thời gian thực. Đây là điều kiện để quy hoạch được linh hoạt, khoa học và có thể thích ứng nhanh với thay đổi.
Thứ tám, trong quá trình sáp nhập và phát triển, cần đặc biệt chú trọng bảo tồn tính đa dạng và bản sắc văn hóa vùng miền. Một siêu đô thị hiện đại không nên đồng nhất hóa mọi địa phương, mà phải gìn giữ được “cái riêng” của từng khu vực để tạo nên một chỉnh thể đa trung tâm, giàu bản sắc.
Thứ chín, xây dựng một cơ chế điều phối vùng có thực quyền về pháp lý và tài chính. Trong cục diện ba tỉnh thành trong số “Tứ giác kinh tế” (trước đây gồm 4 tỉnh thành trong Top 10 có GRDP cao nhất và đóng góp nhiều nhất cho ngân sách quốc gia) được hợp nhất, việc hợp tác vùng giữa “TP.HCM mới” với “Đồng Nai mới” sẽ trở nên thuận tiện dễ dàng hơn nhiều trong việc hợp tác liên kết vùng.
Và cuối cùng, phải có một chiến lược truyền thông xuyên suốt và đồng bộ, nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, giúp mọi tầng lớp người dân hiểu rõ lợi ích dài hạn của việc mở rộng địa giới và cùng nhau chủ động tham gia vào quá trình kiến tạo Siêu Đô thị Mới.
Chỉ khi đồng thời gắn kết được tư duy và thực thi các dự án kinh tế xã hội theo 10 nguyên lý này, từ tổ chức không gian, hạ tầng, quản trị đến văn hóa, … với sự đồng thuận cao của xã hội, thì siêu đô thị tương lai mới có thể phát triển theo hướng hiệu quả, hài hòa và bền vững trong dài hạn.
Với vai trò là một siêu đô thị cấp vùng sau mở rộng, TP.HCM nên ưu tiên quy hoạch theo trục nào: hạ tầng, kinh tế, xã hội hay bản sắc văn hóa?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Trong giai đoạn đầu sau mở rộng, TP.HCM cần bổ sung việc ưu tiên quy hoạch phát triển đô thị theo trục động lực phát triển kinh tế biển, cụ thể là xây dựng một trục hạ tầng chiến lược đa phương thức kết nối ba địa phương: TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây không chỉ là một tuyến giao thông chiến lược đa phương thức (đường bộ, đường bộ cao tốc, metro, đường sắt, đường sắt cao tốc, đường thủy, đường hàng không), mà còn là trục phát triển tổng hợp, định hình cấu trúc không gian và định hướng tăng trưởng dài hạn cho toàn vùng đô thị mở rộng.
Trên trục phát triển này, mỗi địa phương sẽ phát huy vai trò riêng, đảm nhận một chức năng kinh tế chiến lược: TP.HCM tiếp tục là trung tâm kinh tế, tài chính, đào tạo nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế. Bình Dương trở thành đô thị công nghiệp, công nghệ cao, thu hút FDI và thu hút dân số chuyển dịch từ vùng lõi TP.HCM về nhờ lợi thế về quỹ đất, giá nhà ở hợp lý và hạ tầng kỹ thuật hiện đại.
Trong khi đó, Bà Rịa – Vũng Tàu giữ vai trò là trung tâm kinh tế biển, phát triển cảng nước sâu quốc tế, dịch vụ logistics vùng và du lịch sinh thái nghỉ dưỡng. Việc ưu tiên quy hoạch theo trục hạ tầng liên kết này sẽ giúp gắn kết chặt chẽ các khu vực chức năng đặc thù, bảo đảm sự phân bổ hợp lý về dân cư, nguồn lực và cơ hội phát triển, từ đó hình thành một siêu đô thị hài hòa, bền vững và có năng lực cạnh tranh vượt trội trong khu vực.
Trong bối cảnh mới, việc hình thành “tam giác vàng” cảng biển và sân bay – công nghiệp – du lịch cần được quy hoạch theo nguyên tắc gì để các cực này hỗ trợ thay vì triệt tiêu lẫn nhau?
TSKH.KTS.Ngô Viết Nam Sơn: “Tam giác vàng” cảng biển và sân bay – công nghiệp – du lịch cần được quy hoạch theo nguyên tắc hỗ trợ chức năng, tối ưu liên kết và chia sẻ hạ tầng kết nối logistics hiệu quả, nhằm tạo nên một hệ sinh thái phát triển kinh tế biển bền vững.
Trong đó, cảng biển quốc tế được định vị tại cụm Thị Vải – Cái Mép – Cần Giờ, kết nối trực tiếp với các tuyến cao tốc (kéo dài đến tuyến Vành đai 4 và các tuyến trọng điểm khác) và đường sắt liên vùng thông qua hệ thống giao thông trục chính và cầu cống, hình thành tuyến vận chuyển hàng hóa chiến lược liên thông vùng Siêu đô thị kết nối với thị trường nội địa lẫn quốc tế.
Các khu công nghiệp trọng điểm được bố trí tại các địa bàn có lợi thế sẵn tại Bình Dương, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu, đóng vai trò là nguồn cung hàng hóa đầu vào, đầu ra cho cảng biển.
Song song, hệ thống logistics hỗ trợ, bao gồm cao tốc, đường sắt, đường hàng không và đường thủy, tạo mạng lưới vận tải đa phương thức, góp phần giảm thời gian và chi phí vận chuyển, tăng năng suất lưu thông và nâng cao năng lực cạnh tranh cho toàn khu vực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế công nghiệp, du lịch, và đô thị.
Sự phân vai rõ ràng và kết nối hạ tầng hiệu quả giữa ba cực cảng biển và sân bay, công nghiệp - du lịch với không gian đô thị không chỉ giúp các địa phương bổ trợ cho nhau thay vì cạnh tranh nội bộ, mà còn tạo giúp phần khẳng định vị thế trung tâm sản xuất – xuất khẩu – dịch vụ hàng đầu khu vực.
Mô hình đô thị đa trung tâm là chiến lược
Theo ông, TP.HCM cần chuyển đổi từ mô hình đô thị tập trung truyền thống sang mô hình đa trung tâm như thế nào để thích ứng hiệu quả với không gian đô thị mở rộng?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Trong nhiều thập niên trước, TP.HCM phát triển theo mô hình đô thị tập trung, với hầu hết tiện ích tốt nhất như trường học, bệnh viện, nhà hát, công viên hay trung tâm thể thao đều dồn về khu vực nội thành, đối lập với hạ tầng xã hội yếu kém ở khu vực ngoại vi. Điều này làm cho cư dân vùng ven hay ngoại thành phải di chuyển chồng chéo ra vào khu vực nội thành, để tiếp cận các dịch vụ chất lượng cao, gây tốn kém thời gian, chi phí và tạo áp lực ngày càng lớn lên khu vực đô thị lõi, dẫn đến quá tải hạ tầng nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm và kẹt xe triền miên.
Tuy nhiên, hiện nay TP.HCM đã từng bước chuyển hướng sang phát triển theo mô hình đa trung tâm. Bên cạnh trung tâm hiện hữu, còn có các đô thị vệ tinh theo trục Đông – Tây – Nam – Bắc như Nam Sài Gòn, Thủ Đức, Củ Chi, Bình Chánh… Giờ đây, khi xét đến kịch bản mở rộng không gian đô thị, kết nối vùng với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu để hình thành siêu đô thị thì mô hình đa trung tâm càng cần được nâng tầm cao hơn trong chiến lược phát triển đô thị .
Điều quan trọng là phải hiểu đúng về khái niệm "đa trung tâm". Mô hình này không đơn thuần là tạo ra nhiều trung tâm đô thị lớn nhỏ xung quanh trung tâm chính , mà là đảm bảo mỗi trung tâm đó đều được quy hoạch bài bản với đầy đủ hệ sinh thái tiện ích: trường học đạt chuẩn, bệnh viện chất lượng, không gian công cộng, thể thao, thương mại, trung tâm văn hóa, cơ hội việc làm và nhà ở phù hợp.
Tức là người dân ở mỗi trung tâm đều có thể sống, học tập, làm việc và giải trí trong bán kính khoảng 15–20 phút di chuyển, không nhất thiết phải lên trung tâm TP.HCM để tận hưởng dịch vụ cao cấp.
Một yếu tố then chốt khác là hệ thống giao thông công cộng liên vùng. Các trung tâm này phải được kết nối mạch lạc bằng đường sắt đô thị metro, xe buýt nhanh, các tuyến cao tốc và đường bộ, để vào dịp cuối tuần hay khi có nhu cầu, người dân vẫn dễ dàng di chuyển đến trung tâm nội thành hay các khu vực khác trong siêu đô thị.
TP.HCM cần tiếp tục phát triển mô hình đa trung tâm một cách đúng nghĩa “an cư lạc nghiệp tại chỗ”, là nơi người dân có thể “sống tại chỗ, làm việc tại chỗ, tận hưởng tiện ích tại chỗ”. Đây là con đường khả thi và bền vững nhất để giảm tải cho đô thị lõi, nâng cao chất lượng sống cho người dân, đồng thời tạo sự phát triển đồng đều, hài hòa giữa các vùng cũ và mới trong đại đô thị tương lai.
Quy hoạch vùng thường gặp tình trạng xung đột lợi ích và thiếu cơ chế điều phối hiệu quả. Theo ông, TP.HCM mở rộng địa giới, cần xây dựng mô hình quản trị như thế nào để tránh phân mảnh và đảm bảo tính liên kết vùng bền vững?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Ở Việt Nam chưa hình thành được một mô hình Chính quyền Vùng đúng nghĩa, dẫn đến tình trạng khó thực hiện quy hoạch vùng, trong khi các địa phương chủ yếu mạnh ai nấy làm!
Tuy nhiên, khi TP.HCM được sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, thì cục diện liên kết vùng tứ giác kinh tế sẽ hoàn toàn khác. Trong bức tranh lớn đó, vùng tứ giác kinh tế TP.HCM – Bình Dương – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu là nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về GRDP và đóng góp cho ngân sách quốc gia. Nhóm tứ giác này đang sở hữu các hạ tầng chiến lược tầm quốc gia: cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, đường sắt quốc gia, mạng lưới cao tốc liên tỉnh và trung tâm logistics quy mô lớn.
Ví dụ, TP.HCM mới sẽ bao gồm ga đường sắt Thủ Đức (lớn nhất cả nước), cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải (lớn nhất Việt Nam) và chỉ thiếu sân bay quốc tế Long Thành (nằm tại Đồng Nai). Khi tăng cường liên kết với Đồng Nai và cả Tây Ninh, khu vực trung tâm này sẽ sở hữu đầy đủ yếu tố hạ tầng để trở thành một siêu đô thị về logistics, công nghiệp và tài chính mang tầm khu vực.
Điều này cũng kéo theo yêu cầu điều chỉnh lại quy hoạch vùng theo hướng tích hợp tổng thể. Trước đây, TP.HCM quy hoạch cảng Cần Giờ như một cảng trung chuyển chứ không liên kết với cụm cảng Cái Mép – Thị Vải do thuộc tỉnh khác. Nhưng sau khi sáp nhập, cụm cảng Cần Giờ - Cái Mép – Thị Vải có thể tái cấu trúc lại thành một hệ thống hỗ trợ lẫn nhau, tối ưu năng lực khai thác tổng hợp.
Tương tự, tuyến đường Vành đai 4 trước kia dừng lại ở đoạn giao cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu, thì sau sáp nhập, hoàn toàn có thể kéo dài chạy qua Cần Giờ, hình thành trục logistics khép kín từ Bình Dương – Đồng Nai – TP.HCM – Bà Rịa – Cần Giờ. Chỉ cần xây một đoạn cầu ngắn từ Phú Mỹ sang Cần Giờ là có thể hoàn chỉnh toàn bộ chuỗi kết nối đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy nối đến cảng biển, … phục vụ cho việc thúc đẩy phát triển công nghiệp và du lịch của toàn vùng siêu đô thị.
Về mặt điều hành, mô hình mới cũng giúp rút gọn quy trình ra quyết định. Nếu trước đây cần đến 7–8 tỉnh thành cùng thống nhất để triển khai một dự án vùng, thì nay chỉ cần 2–3 bên. Điều quan trọng hơn cả là TP.HCM sau sáp nhập sẽ có quy mô kinh tế lớn hơn, hạ tầng đồng bộ hơn và có quyền chủ động hơn trong việc xây dựng và thực thi một chiến lược quy hoạch tích hợp cho việc phát triển toàn vùng.
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn
Định hướng quy hoạch mang tính đột phá
Vậy TP.HCM có thể rút ra bài học gì từ các siêu đô thị như Bangkok, Jakarta hay Paris để tránh rơi vào vòng xoáy quá tải và lặp lại những sai lầm trong quy hoạch dài hạn?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Khi nói đến viễn cảnh hình thành một siêu đô thị từ sự hợp nhất giữa TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, tôi cho rằng việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế là cần thiết nhưng phải có chọn lọc. Những mô hình như Bangkok, Jakarta hay thậm chí Paris đều có giá trị tham khảo nhất định, song không thể áp dụng máy móc.
Mỗi đô thị có những đặc thù riêng về địa lý, xã hội, văn hóa và cơ cấu kinh tế. Với TP.HCM, đặc trưng sông nước, hệ thống kênh rạch chằng chịt và đặc biệt là khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ khiến cho bài toán quy hoạch càng đòi hỏi sự linh hoạt và bản địa hóa cao.
Một trong những sai lầm phổ biến mà nhiều siêu đô thị như Bangkok hay Jakarta từng mắc phải là phát triển thiếu kiểm soát, quá tải dân cư, phân bố chức năng đô thị không đồng đều và hạ tầng đi sau tăng trưởng. TP.HCM nếu không cẩn trọng, rất dễ rơi vào "vết xe đổ" này, nhất là khi không có một tư duy quy hoạch mới, phù hợp với điều kiện địa phương và tầm nhìn dài hạn.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, khi sáp nhập ba địa phương thì việc cộng gộp ba quy hoạch tỉnh thành, được Thủ tướng phê duyệt trước đây, lại thành một bản kế hoạch chung là không đủ. Những quy hoạch hiện có chỉ nên được xem là nền tảng tham khảo cho việc thiết lâp một bản quy hoạch mới sau sáp nhập với tư duy đột phá, tận dụng được những lợi thế chiến lược mới từ việc sáp nhập, và có sự chuẩn bị ứng phó được với những nguy cơ mới có thể xảy ra.
Một trong những chiến lược mới rất quan trọng là xây dựng trục động lực kinh tế biển kết nối TP.HCM – Bình Dương – Bà Rịa – Vũng Tàu. Không gian phát triển đô thị trên Trục động lực phát triển này cần được kết nối bởi hệ thống hạ tầng chiến lược đa phương thức: từ đường bộ, đường sắt, metro, đường thủy, cho đến hàng không, tất cả cùng hội tụ, tạo nên "xương sống" liên kết vùng.
Các tuyến cao tốc sẽ kết nối trực tiếp các tỉnh thành đến khu đô thị sân bay quốc tế Long Thành; các tuyến đường sắt phục vụ vận chuyển hàng hóa trực tiếp giữa các khu công nghiệp, công nghệ cao của vùng đô thị đến cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải – Cần Giờ; trong khi giao thông đường thủy ven sông nối kết với hệ thống cảng biển phục vụ hiệu quả cho du lịch sông nước và cho việc vận tải hàng hóa tập kết ra cảng biển . Đồng thời, mạng lưới metro sẽ đóng vai trò then chốt trong việc kết nối các trung tâm nội đô và đô thị vệ tinh theo chiều sâu.
Dọc theo hành lang này, có thể quy hoạch một chuỗi đô thị mở, gắn liền với các mô hình kinh tế biển. Chẳng hạn khu đô thị công nghiệp hiện đại tại Bình Dương, khu đô thị đại học và công nghệ cao tại Thủ Đức, khu đô thị cảng biển tại cụm cảng Cái Mép – Thị Vải – Cần Giờ, chuỗi đô thị du lịch biển Cần Giờ - Vũng Tàu – Long Hải – Hồ Tràm. Mỗi đô thị trong hệ thống sẽ có bản sắc và chức năng riêng, nhưng được quy hoạch đồng bộ trong một hệ sinh thái thống nhất vừa đa dạng, vừa liên kết chặt chẽ, không phát triển manh mún hay chồng chéo.
Chiến lược này không chỉ giúp phân bổ dân cư và dịch vụ hợp lý, mà còn giảm tải áp lực cho khu vực lõi TP.HCM hiện hữu, tạo ra động lực tăng trưởng mới trên toàn vùng, mở ra cơ hội để tái cấu trúc không gian đô thị theo hướng bền vững, đa cực và thích ứng cao với biến đổi khí hậu.
Nếu có chiến lược đúng đắn và cách tiếp cận linh hoạt, tôi tin rằng khu vực đại đô thị TP.HCM mở rộng hoàn toàn có thể sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số trong trên một thập kỷ. Đây không phải là mộng tưởng, mà là một khả năng thực tế miễn là chúng ta dám nghĩ lớn, hành động quyết liệt và cam kết kiến tạo một siêu đô thị hiện đại, bền vững và đậm bản sắc vùng miền.
Với kinh nghiệm quy hoạch nhiều địa phương, theo ông, đâu là cơ hội đột phá để TP.HCM sau khi mở rộng thực sự “lớn lên về chất”, chứ không chỉ dừng lại ở việc nới rộng địa giới?
TSKH.KTS. Ngô Viết Nam Sơn: Việc mở rộng TP.HCM thành một đại đô thị với quy mô diện tích tăng gấp ba lần và dân số tăng gấp rưỡi, không chỉ đặt ra nhiều thách thức mới về quản lý đô thị, mà còn mở ra nhiều cơ hội đột phá trong việc tổ chức đô thị thông minh và hiệu quả hơn.
Mấu chốt ở đây là, thứ nhất, phát triển đô thị phải đi sau một bước so với phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Thứ hai, không phát triển theo kiểu giàn trải dàn đều mọi nơi, mà phải có chiến lược rõ ràng, tập trung nguồn lực vào những trục động lực và khu vực then chốt.
Tôi cho rằng, nên ưu tiên phát triển các cụm đô thị động lực chiến lược gắn với hành lang động lực chiến lược, là những nơi tập trung đầu tư mạnh về hạ tầng, phục vụ đông dân cư sinh sống hoặc làm việc, tạo thành những "lõi động lực" về kinh tế xã hội, đóng góp nhiều nhất cho ngân sách và thúc đẩy tăng trưởng lan tỏa ra toàn vùng. Khi quy hoạch theo mô hình đô thị nén, dân cư và hoạt động kinh tế sẽ tập trung đủ số lượng nhu cầu cần thiết, để phát triển hiệu quả cao các hệ thống hạ tầng chất lượng cao như giao thông công cộng, cấp nước, xử lý rác, trường học, bệnh viện….
Chẳng hạn như metro, một trong những trụ cột giao thông đô thị hiện đại chỉ phát huy được vai trò khi có mật độ dân cư dọc tuyến đủ cao theo yêu cầu. Người dân sử dụng thường xuyên, hệ thống vận hành ổn định và bền vững. Ngược lại, nếu dân cư phân tán, metro sẽ không có đủ hành khách, dẫn tới lỗ, và tạo gánh nặng lên ngân sách phải bù lỗ.
Tương tự, các dịch vụ hạ tầng xã hội như đại học, bệnh viện tuyến cuối hay khu công nghệ cao nên được tập trung tại các trung tâm lớn, đủ điều kiện để đầu tư đồng bộ và chất lượng cao. Với hệ thống giao thông kết nối thuận tiện, người dân ở các vùng ven vẫn hoàn toàn có thể tiếp cận dịch vụ này.
Tóm lại, cơ hội lớn nhất của TP.HCM mở rộng không chỉ nằm ở địa giới hay quy mô dân số mà nằm ở việc tái cấu trúc không gian đô thị một cách khoa học, đảm bảo tính công bằng, người dân dù ở đâu cũng tiếp cận được các dịch vụ đô thị chất lượng cao. Đó là cách để siêu đô thị này “lớn lên về chất” một cách thực sự và bền vững ./.Top of Form
Xin cảm ơn ông!
Hứa Phương - Quỳnh Anh
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/truc-chien-luoc-dinh-hinh-sieu-do-thi-tphcm-sau-mo-rong-dia-gioi-d41822.html