Lebanon không chọn chiến tranh, song chính vị trí địa lý, lịch sử và sự đan xen phức tạp của các toan tính quyền lực trong khu vực, tất cả đã đưa đẩy quốc gia kẹp giữa Israel và Syria ngập chìm trong vòng xoáy bạo lực.
6 tuần kể từ khi chiến sự Trung Đông bùng phát, dư luận còn chưa kịp định thần trước những mất mát đau thương ở quốc gia chỉ vỏn vẹn chưa đầy 6 triệu dân này: Hơn 2.000 người thiệt mạng, hàng nghìn người bị thương, 1,2 triệu người buộc phải di dời do mất nhà cửa, nhiều khu dân cư và cơ sở hạ tầng bị xóa sổ, thiệt hại ước tính hàng tỷ USD. Chắc chắn con số này sẽ không dừng lại khi cuộc chiến chưa thấy hồi kết.
Khói bốc lên ở ngoại ô Beirut, Lebanon sau cuộc không kích của Israel.
Vậy cơn cớ nào đã tước đi quyền lựa chọn được sinh sống hòa bình, đẩy đất nước nhỏ bé ven bờ Địa Trung Hải tới bờ vực sụp đổ? Ngược dòng thời gian, trong khoảng 3 thập kỷ sau khi giành độc lập từ Pháp vào năm 1943, Lebanon từng phát triển phồn thịnh, được ví như “Thụy Sĩ của Trung Đông” nhờ duy trì sự ổn định, trung lập trong một khu vực đầy biến động, trên nền tảng sự thịnh vượng ngày càng gia tăng nhờ nguồn thu dồi dào từ dầu mỏ. Thời hoàng kim, thủ đô Beirut của Lebanon đã có lúc đóng vai trò như một trung tâm kinh tế, xã hội, văn hóa và tri thức vào giữa thế kỷ 20. Nhưng, sự thịnh vượng ấy chỉ là bề nổi của một tảng băng chìm, khi ẩn chứa bên trong nó là những bất ổn mỗi ngày thêm tích tụ.
Là một trong những quốc gia đa dạng nhất ở Trung Đông, Lebanon có tới 18 giáo phái tôn giáo được công nhận chính thức, bao gồm 12 nhóm Kitô giáo, 4 nhóm Hồi giáo, người Druze và cộng đồng người Do Thái. Sau ngày độc lập, một hệ thống chính trị mang tính thỏa hiệp đã được dựng lên dựa trên “hạn ngạch tôn giáo”, với ghế Tổng thống dành cho người Kitô giáo, ghế Thủ tướng cho người Hồi giáo Sunni và ghế Chủ tịch Quốc hội cho người Hồi giáo Shia. Cơ chế này tưởng chừng tạo ra sự cân bằng quyền lực, song khi áp dụng vào thực tế, nó dần bộc lộ những bất cập không thể khỏa lấp: Sự áp đặt bản sắc tôn giáo trong chính trị; lãnh đạo phục vụ phe phái thay vì quốc gia; bộ máy nhà nước bị phân mảnh, suy yếu theo thời gian.
Họa vô đơn chí, những căng thẳng bất đồng trong nội bộ, cộng hưởng những can thiệp có chủ đích từ bên ngoài đẩy Lebanon rơi vào cảnh “nồi da xáo thịt” suốt 15 năm nội chiến (1975-1990). Kết quả là cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, kinh tế kiệt quệ, quyền lực nhà nước bên bờ sụp đổ. Thêm vào đó, sự cát cứ của các phe phái tôn giáo và các nhóm vũ trang-trong đó chiếm ưu thế nổi bật là lực lượng Hezbollah-đã xé toạc quốc gia non trẻ, biến Lebanon thành nơi thử nghiệm mô hình “quốc gia trong quốc gia” đầy hỗn loạn.
Trong nhiều thập kỷ, Hezbollah không chỉ là một lực lượng quân sự mà còn là một cấu trúc quyền lực song song với nhà nước Lebanon. Điều này tạo ra một nghịch lý: Lebanon là quốc gia có chủ quyền trên danh nghĩa, song lại không độc quyền về sức mạnh quân sự. Hậu quả nhãn tiền là bất cứ khi nào Hezbollah “ra đòn” với “quốc gia đối địch” Israel, thì không lâu sau đó, người dân Lebanon lại ngơ ngác hứng chịu những đòn đáp trả hủy diệt từ Tel Aviv.
Giữa tâm điểm chiến sự Trung Đông, Lebanon đang rơi vào một tình thế đặc biệt nguy hiểm: Bom đạn không ngừng cày xới đất nước này ngay cả khi các bên liên quan đạt được thỏa thuận ngừng bắn. Có thể thấy, bi kịch lớn nhất của Lebanon không nằm ở số lượng bom đạn phải hứng chịu, mà ở chỗ “quyền làm chủ vận mệnh quốc gia” dường như đã vuột khỏi tầm tay.
NGUYÊN PHONG