Ngày 20-3, Trường Đại học (ĐH) Luật TP.HCM tổ chức Hội thảo cấp quốc gia về phát triển Trường ĐH Luật TP.HCM thành đại học đa ngành – kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam. Hội thảo thu hút hàng trăm đại biểu là lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học, các chuyên gia, nhà khoa học, người hành nghề thực tiễn và giảng viên tham dự.
Phát triển đa ngành phải giữ lĩnh vực cốt lõi
Phát biểu tại hội thảo, TS Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học (ĐH) Luật TP.HCM đã điểm lại quá trình hình thành và phát triển của nhà trường trong gần 50 năm qua.
Ông cho rằng định hướng đa ngành của trường không phải mới bắt đầu. Từ năm 2011, trường đã mở thêm các ngành ngoài luật như quản trị kinh doanh; đến năm 2013 triển khai chương trình tiếng Anh pháp lý. Định hướng này tiếp tục được xác lập rõ trong chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và các quyết định của Chính phủ về xây dựng các cơ sở đào tạo pháp luật trọng điểm.
“Phát triển liên ngành không có nghĩa là rời bỏ căn cốt, mà là để phát huy thế mạnh truyền thống ở tầm cao hơn. Trường ĐH Luật TP.HCM vẫn xác định pháp luật là lĩnh vực trọng điểm, là hạt nhân bản sắc và là nền tảng cho sự phát triển trong giai đoạn tới” - ông nhấn mạnh.
TS Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng Trường ĐH Luật TP.HCM.
Tuy nhiên, ông cũng nhìn nhận quá trình chuyển đổi đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, từ yêu cầu pháp lý, mô hình tổ chức đến bài toán lựa chọn ngành nghề, lộ trình phát triển và nguy cơ ảnh hưởng đến thương hiệu.
Chính vì vậy, ông kỳ vọng các ý kiến từ cơ quan quản lý, các cơ sở đào tạo, chuyên gia và nhà khoa học sẽ là nguồn tham khảo quan trọng để nhà trường hoàn thiện chiến lược, xây dựng lộ trình phù hợp, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành một đại học đa ngành, trong đó pháp luật là lĩnh vực trọng điểm.
Ở góc độ chính sách và quản lý chung, PGS.TS Nguyễn Như Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ GD&ĐT), nhấn mạnh giá trị cốt lõi của mô hình ĐH đa ngành này không nằm ở số lượng ngành đào tạo, mà ở năng lực tổ chức đào tạo, nghiên cứu và quản trị theo hướng liên ngành, đồng thời xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với phục vụ xã hội.
Theo ông, các vấn đề phát triển hiện nay như chuyển đổi số, biến đổi khí hậu hay quản trị xã hội ngày càng phức tạp, không thể giải quyết bằng một lĩnh vực đơn lẻ. Điều này đòi hỏi các cơ sở ĐH phải thiết kế chương trình đào tạo tích hợp, hình thành các nhóm nghiên cứu liên ngành và xây dựng các trung tâm, viện nghiên cứu liên lĩnh vực.
PGS.TS Nguyễn Như Hà cho biết nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo nền tảng cho phát triển ĐH đa ngành, trong đó nhấn mạnh ba trụ cột gồm tự chủ ĐH, liên ngành gắn với đổi mới sáng tạo và trách nhiệm giải trình.
Đáng chú ý, khung pháp lý về giáo dục ĐH đang có sự thay đổi theo hướng siết chặt tiêu chí công nhận mô hình đại học đa ngành. Theo dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Giáo dục ĐH sắp ban hành, việc chuyển đổi từ “trường đại học” sang “đại học” không chỉ dựa vào mô hình tổ chức, mà phải chứng minh năng lực thực chất về đào tạo, nghiên cứu, đội ngũ và quản trị. “Việc chuyển đổi phải phản ánh sự phát triển thực chất, không phải là phép cộng cơ học giữa các đơn vị”, ông nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, các tiêu chí cũng ngày càng nâng cao, như tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, số lượng công bố khoa học quốc tế, mức độ quốc tế hóa và năng lực tự chủ toàn diện. Đồng thời, cơ sở giáo dục phải đảm bảo minh bạch, kiểm định chất lượng và trách nhiệm giải trình trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông cho rằng nhiều ĐH phát triển đa ngành nhưng vẫn giữ vững “lõi học thuật”, như các mô hình kết hợp luật với kinh tế, chính sách công hoặc quan hệ quốc tế. Đây là gợi ý quan trọng cho các cơ sở đào tạo tại Việt Nam trong quá trình chuyển đổi.
PGS.TS Nguyễn Như Hà phát biểu tại hội thảo.
Đối với Trường ĐH Luật TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Như Hà nhấn mạnh định hướng phát triển đa ngành cần dựa trên nền tảng pháp luật là lĩnh vực cốt lõi, đồng thời mở rộng có chọn lọc sang các ngành liên quan như kinh tế, quản trị, chính sách công. Quá trình này cần được thực hiện theo lộ trình, gắn với hoàn thiện điều kiện pháp lý, phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới mô hình quản trị.
“Việc chuyển đổi chỉ có ý nghĩa khi nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu và đáp ứng nhu cầu xã hội. Nếu chỉ thay đổi danh xưng mà không cải thiện nội dung học thuật thì không tạo ra giá trị gia tăng, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của cơ sở đào tạo” - PGS.TS Nguyễn Như Hà cảnh báo.
Hội thảo có sự tham dự của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hồng Hạnh, giám đốc Sở Tư Pháp TP.HCM cùng các lãnh đạo, chuyên gia từ nhiều cơ sở đào tạo.
Đừng “mơ mộng” mở ngành dàn trải
Báo cáo tại hội thảo, các đại biểu đều chung quan điểm phát triển đại học đa ngành là xu hướng chủ đạo của giáo dục ĐH hiện đại trong bối cảnh kinh tế tri thức, xã hội số và yêu cầu phát triển bền vững. Đồng thời, các đại biểu cũng có những chia sẻ và góp ý thẳng thắn về điều kiện cũng như lộ trình thực hiện sao cho phù hợp.
TS Đặng Tất Dũng, Phó Trưởng khoa Luật Hành chính – Nhà nước, Trường ĐH Luật TP.HCM khái quát qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, phát triển đa ngành hiện nay không còn là xu hướng nhất thời mà là một định hướng tất yếu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của xã hội và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, theo ông, quá trình chuyển đổi cũng đặt ra nhiều thách thức lớn. Trước hết là yêu cầu pháp lý với các tiêu chí ngày càng cao về quy mô đào tạo, đội ngũ, nghiên cứu khoa học và quốc tế hóa. Bên cạnh đó, là bài toán giữ vững bản sắc, tránh phát triển dàn trải và nguy cơ ảnh hưởng đến thương hiệu.
Từ đó, TS Đặng Tất Dũng đề xuất trường cần hoàn thiện chính sách, xây dựng lộ trình tổng thể rõ ràng, phát triển đa ngành không chỉ ở bậc ĐH mà cả sau ĐH, đồng thời đa dạng hóa chương trình đào tạo theo định hướng xã hội, tăng sức hấp dẫn của trường. Ngoài ra, cần có cơ chế phân hóa chỉ tiêu phù hợp từng đơn vị, chú trọng phát triển đội ngũ và xây dựng môi trường làm việc hạnh phúc, tích cực.
Từ kinh nghiệm thực tiễn của ĐH Kinh tế TP.HCM, TS Đinh Công Khải, Phó Giám đốc ĐH này, cho rằng để phát triển từ mô hình đơn ngành sang đa ngành, yếu tố then chốt trước hết là vai trò lãnh đạo. Theo ông, ban lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược dài hạn, định hướng rõ ràng và kiên định trong tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, sự đồng thuận của đội ngũ giảng viên là điều kiện quan trọng. “Giảng viên cần hiểu và ủng hộ mô hình đa ngành, bởi chính họ là lực lượng trực tiếp tham gia xây dựng và cũng là đối tượng được hưởng lợi từ quá trình này”, ông nhấn mạnh.
TS Đinh Công Khải, Phó giám đốc ĐH Kinh tế TP.HCM trao đổi kinh nghiệm tại hội thảo.
TS Khải cho rằng việc chuyển đổi cần dựa trên chiến lược và lộ trình cụ thể, gắn với năng lực cốt lõi của cơ sở đào tạo. Từ kinh nghiệm của ĐH Kinh tế TP.HCM, ông lưu ý không nên “mơ mộng” mở rộng đa ngành một cách dàn trải hoặc kết hợp những lĩnh vực không có nền tảng liên quan. Thay vào đó, cần phát triển từng bước từ các ngành gần, đảm bảo năng lực vận hành, tổ chức đào tạo và khả năng tuyển sinh, tránh tình trạng mở ngành nhưng không hiệu quả.
Quá trình này cũng đòi hỏi sự đầu tư tương xứng về nguồn lực và cơ chế chính sách phù hợp, trong đó cần có các chính sách khuyến khích giảng viên tham gia xây dựng chương trình liên ngành. Đồng thời, mỗi khoa, đơn vị trong trường phải chủ động đề xuất hướng phát triển đa ngành, liên ngành phù hợp với thế mạnh của mình.
Ông cũng nhấn mạnh, lộ trình triển khai nên bắt đầu từ việc tích hợp, kết nối các ngành hiện có, sau đó mới mở rộng sang các lĩnh vực mới. Sự phối hợp chặt chẽ và đóng góp sáng tạo từ các khoa, đơn vị sẽ quyết định hiệu quả của quá trình xây dựng các chương trình đa ngành.
GS.TS Hà Nam Khánh Giao, Phó Giám đốc Học viện Hàng không Việt Nam, cho biết nhà trường định hướng phát triển đa ngành ngay từ giai đoạn đầu thành lập. Đến nay, hàng không vẫn là lĩnh vực đặc trưng, giữ vai trò hoạt động lõi. Bên cạnh đó, học viện mở rộng sang các ngành thuộc khối kỹ thuật như điện tử, viễn thông và cả lĩnh vực kinh tế.
Theo GS Giao, một trong những kinh nghiệm quan trọng mà nhà trường rút ra là ngay từ đầu phải xây dựng được đội ngũ quản lý có chuyên môn sâu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ ngành lõi đến các ngành mở rộng, có như vậy mới đảm bảo việc vận hành hiệu quả.
PGS.TS Thái Thị Tuyết Dung, Trưởng ban Pháp chế, ĐH Quốc gia TP.HCM chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: ULAW
Đề xuất 3 trường thành viên trong trường luật
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Thái Thị Tuyết Dung, Trưởng ban Pháp chế, ĐH Quốc gia TP.HCM, cho rằng thách thức lớn nhất của mô hình ĐH không nằm ở chủ trương mà áp lực ở tổ chức vận hành và quản trị.
Phân tích dự thảo các quy định mới, bà cho biết điều kiện để chuyển từ trường đại học lên đại học là khá cao, với yêu cầu phải có ít nhất ba trường thành viên; quy mô đào tạo lớn; hệ thống ngành đào tạo đa dạng, trong đó có nhiều ngành đào tạo đến trình độ tiến sĩ; cùng các tiêu chí khắt khe về đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học và quốc tế hóa.
Đối chiếu với thực tiễn, Trường ĐH Luật TP.HCM hiện đã có nền tảng nhất định về quy mô đào tạo và một số ngành đào tạo sau đại học, nhưng để đạt đầy đủ các tiêu chí của một đại học đa ngành vẫn cần một lộ trình dài, đặc biệt ở việc phát triển ngành đào tạo tiến sĩ, nâng cao tỷ lệ giảng viên trình độ cao và tăng cường năng lực nghiên cứu.
Từ đó, bà đề xuất định hướng thành lập ba trường thành viên là Trường Luật và Chính sách công; Trường Quản trị và Kinh doanh; Trường Công nghệ. Việc mở rộng cần ưu tiên các ngành “gần”, có khả năng hỗ trợ cho lĩnh vực pháp lý, thay vì phát triển dàn trải sang các lĩnh vực xa.
Bên cạnh đó, cần có chính sách mạnh để thu hút và phát triển đội ngũ, như cơ chế giảng viên đồng cơ hữu, hỗ trợ đào tạo tiến sĩ, thu hút giảng viên quốc tế; đồng thời đẩy mạnh quốc tế hóa thông qua thu hút sinh viên quốc tế, trước hết từ khu vực Đông Nam Á, và phát triển các chương trình đào tạo linh hoạt, kể cả trực tuyến.
Về lộ trình, bà cho rằng nếu triển khai quyết liệt, nhà trường có thể chia làm ba giai đoạn, bắt đầu từ năm 2026 đến 2035 để đảm bảo đạt các tiêu chí cơ bản của đại học đa ngành vào khoảng năm 2032, sau đó duy trì và hoàn thiện các điều kiện để được công nhận chính thức.
Một số điều kiện để trở thành đại học theo dự thảo Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật giáo dục đại học năm 2025:
PHẠM ANH