Từ 1/7/2026: Kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn

Từ 1/7/2026: Kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn
2 giờ trướcBài gốc
Nghị định gồm 9 chương, 42 điều, quy định cụ thể về trình tự, thủ tục yêu cầu và cung cấp thông tin tài sản, thu nhập; kê khai và công khai bản kê khai; xây dựng kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập; quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý vi phạm liên quan.
Ảnh minh họa.
Các loại tài sản phải kê khai
Theo Nghị định, tài sản, thu nhập phải kê khai là tài sản của người có nghĩa vụ kê khai, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.
Các loại tài sản phải kê khai gồm quyền sử dụng đất; nhà ở, công trình xây dựng; tài sản khác gắn liền với đất; vàng, kim cương, bạch kim và các kim khí quý, đá quý khác có tổng giá trị từ 150 triệu đồng trở lên.
Ngoài ra, tiền mặt, tiền gửi, tiền cho vay, tiền trả trước bằng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ có tổng giá trị quy đổi từ 150 triệu đồng trở lên cũng thuộc diện kê khai.
Nghị định cũng yêu cầu kê khai cổ phiếu, trái phiếu, phần vốn góp và các loại giấy tờ có giá khác từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản số và các tài sản khác có giá trị từ 150 triệu đồng trở lên; các khoản nợ từ 150 triệu đồng trở lên; tài sản và tài khoản ở nước ngoài; tổng thu nhập giữa hai lần kê khai.
Việc kê khai lần đầu, kê khai hằng năm, kê khai bổ sung và kê khai phục vụ công tác cán bộ được thực hiện theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định.
Đáng chú ý, Nghị định cho phép triển khai kê khai tài sản, thu nhập trên môi trường điện tử khi đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ nhằm phục vụ công tác lưu trữ, quản lý và kiểm soát dữ liệu.
Về đối tượng kê khai hằng năm, Nghị định quy định người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương có phụ cấp chức vụ từ 0,25 trở lên tại các cơ quan nhà nước thuộc diện phải kê khai.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, người giữ chức vụ từ Trưởng phòng và tương đương trở lên trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc thường xuyên tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân cũng thuộc diện kê khai hằng năm.
Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập theo quy định.
Công khai bản kê khai tài sản
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Theo đó, bản kê khai của người giữ chức vụ từ Phó Tổng cục trưởng và tương đương trở lên công tác tại cơ quan trung ương được niêm yết tại trụ sở bộ, cơ quan ngang bộ hoặc công khai tại cuộc họp có thành phần lãnh đạo cấp cục, vụ và tương đương trở lên.
Đối với người giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống, việc công khai được thực hiện tại đơn vị hoặc tại cuộc họp có thành phần lãnh đạo cấp phòng trở lên.
Tại địa phương, bản kê khai của Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh được niêm yết tại trụ sở hoặc công khai tại cuộc họp của cơ quan liên quan.
Bản kê khai của cán bộ, công chức thuộc sở, ngành cấp tỉnh; HĐND, UBND cấp xã được niêm yết tại cơ quan hoặc công khai tại cuộc họp của đơn vị nơi công tác.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, việc công khai bản kê khai được thực hiện tại trụ sở doanh nghiệp hoặc tại cuộc họp của các chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định.
Nghị định quy định bản kê khai phải được công khai chậm nhất sau 5 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan quản lý bàn giao cho cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Thời gian niêm yết tối thiểu là 15 ngày.
Việc niêm yết phải lập biên bản xác nhận, bảo đảm vị trí công khai thuận tiện cho việc theo dõi, giám sát.
Đối với hình thức công khai tại cuộc họp, cuộc họp phải bảo đảm có tối thiểu 2/3 số người được triệu tập tham dự. Biên bản cuộc họp phải ghi nhận đầy đủ ý kiến phản ánh, thắc mắc và nội dung giải trình liên quan đến bản kê khai nếu có.
Nghị định cũng quy định việc công khai bản kê khai trên môi trường điện tử sẽ thay thế hình thức công khai trực tiếp khi đáp ứng điều kiện hạ tầng công nghệ.
Nghị định số 164/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Khi Nghị định này có hiệu lực, Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hết hiệu lực thi hành.
Việc ban hành Nghị định mới được kỳ vọng góp phần tăng cường công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ, nâng cao hiệu quả kiểm soát tài sản, thu nhập và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Bình Nguyên
Nguồn Doanh nhân & Công lý : https://doanhnhan.congly.vn/tu-1-7-2026-kiem-soat-viec-ke-khai-tai-san-thu-nhap-cua-nguoi-co-chuc-vu-quyen-han.html