Khi hết nhiệm kỳ, Thẩm phán Tòa án nhân dân không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại nếu trong nhiệm kỳ có 2 năm xếp loại công chức ở mức “không hoàn thành nhiệm vụ”…
Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Thông tư về quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân năm 2026.
Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Thông tư 02/2026/TT-TANDTC quy định về thủ tục, hồ sơ đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân.
Thông tư 02/2026 chỉ được áp dụng cho những người được đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân; Cơ quan, đơn vị, Tòa án và người có thẩm quyền thực hiện thủ tục đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân.
Về nguyên tắc thực hiện đề nghị bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc, điều động, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân, Thông tư yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng, đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và của Tòa án nhân dân Tối cao; Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của cấp ủy, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu.
Việc bổ nhiệm, xét nâng bậc đối với Thẩm phán Tòa án nhân dân phải đảm bảo đúng số lượng, cơ cấu tỷ lệ bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân của từng Tòa án. Người được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, xét nâng bậc Thẩm phán Tòa án nhân dân phải đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định.
Đặc biệt, Thông tư còn quy định cụ thể về các trường hợp không xem xét đề nghị bổ nhiệm lại Thẩm phán Tòa án nhân dân. Theo Điều 10 Thông tư này, khi hết nhiệm kỳ, Thẩm phán Tòa án nhân dân không được xem xét đề nghị bổ nhiệm lại trong các trường hợp:
Trong nhiệm kỳ, Thẩm phán Tòa án nhân dân bị xử lý kỷ luật bằng hình thức từ cảnh cáo trở lên hoặc bị kỷ luật khiển trách 2 lần trở lên do vi phạm quy định của Đảng, Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ của Thẩm phán Tòa án nhân dân;
Trong nhiệm kỳ Thẩm phán Tòa án nhân dân, có 2 năm xếp loại công chức ở mức “không hoàn thành nhiệm vụ” hoặc có 3 năm xếp loại “hoàn thành nhiệm vụ” trở xuống;
Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm tiêu chuẩn chính trị không đủ điều kiện bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân;
Bị xử lý trách nhiệm theo Quy định về xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp bằng hình thức không xem xét bổ nhiệm lại Thẩm phán Tòa án nhân dân; Thẩm phán có nguyện vọng không bổ nhiệm lại vì lý do cá nhân.
Thông tư 02/2026/TT-TANDTC có hiệu lực từ ngày 15/1/2026.
Ngọc Minh