Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm ngày truyền thống của Đại học Quốc gia Hà Nội không chỉ gợi lại truyền thống hiếu học, trọng dụng hiền tài của dân tộc, khẳng định những đóng góp to lớn của Nhà trường, mà còn đặt ra một vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển đất nước: giáo dục Việt Nam phải đổi mới như thế nào để đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Lễ kỷ niệm 120 năm Ngày truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, giáo dục không thể chỉ thay đổi bằng những điều chỉnh nhỏ lẻ về chương trình, giáo trình, giáo khoa, phương pháp thi cử, kiểm tra hay cách quản lý. Vấn đề của giáo dục Việt Nam hiện nay không phải là thiếu chủ trương đổi mới, mà là khoảng cách giữa những chủ trương đúng đắn với khả năng chuyển hóa chúng thành thay đổi thật trong từng cấp học, từng nhà trường và từng cơ chế đánh giá.
Vì vậy, điều cần bàn không chỉ là giáo dục phải đổi mới theo hướng nào, mà còn là làm thế nào để đổi mới không dừng lại ở khẩu hiệu, phong trào hay những thay đổi hình thức. Một nền giáo dục chỉ thật sự bước sang giai đoạn mới khi mục tiêu học tập, cách dạy, cách học, cách quản trị nhà trường và trách nhiệm của giáo dục đối với tương lai quốc gia được thay đổi một cách thực chất, bền bỉ và có thể kiểm chứng trong đời sống.
Điểm cần thay đổi trước tiên là mục tiêu học tập. Trong một thời gian dài, nhà trường chủ yếu được tổ chức xoay quanh việc truyền đạt tri thức có sẵn: thầy giảng, trò ghi nhớ, rồi kiểm tra xem người học tái hiện được bao nhiêu nội dung trong sách vở. Cách học ấy từng có vai trò nhất định trong một giai đoạn mà tri thức biến đổi chậm, nghề nghiệp tương đối ổn định và con đường lập thân của mỗi người ít biến động.
Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi công nghệ thay đổi nhanh, thị trường lao động liên tục dịch chuyển và những vấn đề xã hội ngày càng phức tạp, việc học không thể chỉ nhằm trả lời đúng trong một kỳ thi. Giáo dục vì thế phải hướng đến việc hình thành ở người học năng lực tự học, năng lực đặt câu hỏi, năng lực xử lý thông tin, năng lực hợp tác và năng lực thích ứng với hoàn cảnh mới.
Một người học hôm nay không chỉ cần biết nhiều, mà quan trọng hơn là phải biết tiếp tục học, biết tự điều chỉnh hiểu biết của mình và biết dùng tri thức để giải quyết những vấn đề mới. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa một nền giáo dục nặng về truyền thụ và một nền giáo dục hướng tới phát triển con người.
Khi mục tiêu học tập không còn dừng lại ở việc ghi nhớ và trả lời đúng, nhà trường cũng không thể tiếp tục vận hành như một không gian khép kín, nơi kiến thức chủ yếu đi từ sách giáo khoa đến bài kiểm tra. Tri thức chỉ thật sự có ý nghĩa khi người học biết vận dụng để hiểu đời sống, giải quyết vấn đề và tạo ra giá trị.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Tri thức đại học không thể chỉ dừng lại trong giảng đường, phòng thí nghiệm hay các công bố khoa học mà phải được chuyển hóa thành chính sách tốt hơn, công nghệ hữu ích hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, địa phương phát triển hơn và cuộc sống người dân tốt đẹp hơn”.
Tinh thần ấy cho thấy yêu cầu cốt lõi của giáo dục hôm nay là đưa tri thức ra khỏi phạm vi thuần túy sách vở, giúp người học biết gắn hiểu biết với hành động, với trách nhiệm xã hội và với những vấn đề cụ thể của đời sống.
Tuy nhiên, gắn giáo dục với đời sống không có nghĩa là biến nhà trường thành nơi chỉ dạy những kỹ năng trước mắt hoặc chạy theo nhu cầu ngắn hạn của thị trường lao động. Nếu hiểu theo cách đó, giáo dục rất dễ rơi vào thực dụng. Nhà trường không chỉ đào tạo con người để thích nghi với hiện tại, mà còn phải chuẩn bị cho họ năng lực suy nghĩ, phán đoán và hành động trước những biến đổi chưa thể lường hết của tương lai.
Một nền giáo dục xa rời đời sống có thể tạo ra những người học giỏi làm bài nhưng lúng túng trước vấn đề thật; ngược lại, một nền giáo dục quá thực dụng có thể tạo ra kỹ năng ngắn hạn nhưng thiếu nền tảng tư duy lâu dài.
Vì vậy, làm cho nhà trường gắn chặt hơn với đời sống trước hết là đặt việc học trong mối liên hệ với những vấn đề cấp thiết của con người và xã hội, từ môi trường, công nghệ, văn hóa, lao động đến đạo đức, trách nhiệm công dân và sự phát triển của đất nước.
Người học cần được trải nghiệm, được thử làm, được đối diện với tình huống cụ thể, được sai và sửa sai trong quá trình học tập; nhưng những trải nghiệm ấy phải được nâng đỡ bởi tri thức nền tảng, khả năng tư duy và năng lực tự đánh giá, chứ không chỉ dừng ở các hoạt động bên ngoài lớp học. Nói cách khác, nhà trường cần mở cửa với đời sống nhưng không được đánh mất chiều sâu của giáo dục.
Giáo dục không chỉ giúp người học “làm được việc” trong một thời điểm, mà còn giúp họ hiểu vì sao phải làm, làm như thế nào cho đúng và làm để đóng góp điều gì cho cộng đồng.
Giáo dục không chỉ giúp người học “làm được việc” trong một thời điểm, mà còn giúp họ hiểu vì sao phải làm, làm như thế nào cho đúng và làm để đóng góp điều gì cho cộng đồng. Khi tri thức được đặt trong đời sống theo cách đó, việc học sẽ không còn là sự chuẩn bị thụ động cho kỳ thi, mà trở thành quá trình hình thành năng lực sống, năng lực làm việc và năng lực chịu trách nhiệm của con người trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng.
Nhưng nhà trường chỉ có thể gắn chặt hơn với đời sống khi người thầy có đủ năng lực, điều kiện và quyền chủ động để đưa tinh thần ấy vào từng giờ học. Không có giờ học nào thật sự đổi mới nếu giáo viên chỉ được yêu cầu làm khác đi, nhưng lại không được trao đủ điều kiện để làm khác.
Muốn người học biết đặt câu hỏi, giáo viên cũng phải được khuyến khích tìm tòi. Muốn người học sáng tạo, giáo viên cũng cần có không gian sáng tạo trong chuyên môn. Muốn lớp học bớt áp đặt, người thầy không thể bị trói quá chặt bởi hồ sơ, sổ sách, chỉ tiêu và những áp lực hình thức.
Chương trình bồi dưỡng ứng dụng AI trong giảng dạy tiếng Anh tại Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thực tế cho thấy nhiều giáo viên muốn đổi mới, muốn đưa bài học gần hơn với đời sống, muốn lắng nghe người học nhiều hơn, nhưng họ lại bị cuốn vào quá nhiều việc không trực tiếp làm cho giờ học tốt hơn. Vì thế, nói đến đổi mới giáo dục mà không nói đến việc giải phóng năng lực của đội ngũ nhà giáo là chưa chạm vào điểm cốt lõi. Người thầy cần được tin cậy hơn, được bồi dưỡng thực chất hơn, được giảm bớt những việc hành chính không cần thiết và được đánh giá bằng chất lượng dạy học thật, chứ không chỉ bằng những minh chứng trên giấy.
Khi người thầy có động lực, có tri thức, có quyền chủ động và có niềm tin nghề nghiệp, lớp học mới có cơ hội trở thành nơi khơi gợi tư duy, nuôi dưỡng nhân cách và đánh thức khả năng của mỗi người học.
Muốn người thầy có thêm không gian sáng tạo và nhà trường gắn chặt hơn với đời sống, cách quản trị giáo dục cũng phải thay đổi. Không thể đòi hỏi nhà trường năng động nếu mọi việc đều bị ràng buộc bởi quá nhiều tầng nấc xin phép, quá nhiều biểu mẫu, quá nhiều cuộc kiểm tra thiên về hồ sơ hơn là chất lượng thật.
Một nền giáo dục muốn đổi mới cần được quản lý bằng mục tiêu, bằng kết quả, bằng sự tiến bộ của người học và những đóng góp cụ thể cho xã hội, chứ không chỉ bằng việc đã hoàn thành bao nhiêu kế hoạch, tổ chức bao nhiêu phong trào hay nộp đủ bao nhiêu báo cáo.
Tự chủ trong giáo dục vì thế là một yêu cầu cần thiết, nhưng tự chủ không có nghĩa là buông lỏng, càng không phải để các cơ sở giáo dục tự xoay xở một mình. Tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình, minh bạch về chất lượng, sử dụng hiệu quả nguồn lực và chịu sự đánh giá công bằng từ người học, xã hội và cơ quan quản lý.
Khi nhà trường được trao quyền thật, người thầy được tin cậy thật, người học được đánh giá bằng năng lực thật, đổi mới giáo dục mới có thể thoát khỏi tình trạng chỉ thay đổi trên văn bản. Một nền giáo dục không thể dạy người học dám nghĩ, dám làm, nếu chính nhà trường và người thầy lại luôn phải dè dặt trước mọi ý tưởng mới.
Càng bước vào kỷ nguyên mới, giáo dục càng phải mở rộng cánh cửa với tri thức, công nghệ và những chuẩn mực tiến bộ của thế giới.
Người học hôm nay cần ngoại ngữ, kỹ năng số, năng lực làm việc trong môi trường quốc tế, khả năng thích ứng với công nghệ mới và tư duy đổi mới sáng tạo. Nhưng mở ra thế giới không có nghĩa là đánh mất nguồn cội của mình.
Một nền giáo dục tốt không chỉ tạo ra những con người giỏi cạnh tranh, mà còn phải nuôi dưỡng nhân cách, lòng trung thực, tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng và tình yêu đất nước.
Trong bài phát biểu, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến 2 từ rất quan trọng đối với giáo dục Việt Nam khi tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, đó là “bản lĩnh” và “bản sắc”.
Giáo dục Việt Nam phải đào tạo những con người có năng lực hội nhập, nhưng không mờ nhạt về bản sắc; có bản lĩnh khi bước ra thế giới: biết tiếp nhận cái mới, nhưng không để bị cuốn trôi bởi cái mới; có thể làm việc trong một thế giới rộng mở, nhưng vẫn biết mình thuộc về đâu và cần đóng góp điều gì cho đất nước.
Đổi mới giáo dục vì thế không phải là chạy theo mọi xu hướng thời thượng, mà là chọn lọc những gì cần thiết để người học trưởng thành hơn, tự do hơn trong tư duy, vững vàng hơn trong nhân cách và có trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Từ bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Đại học Quốc gia Hà Nội có thể thấy, đổi mới giáo dục không chỉ là yêu cầu của riêng một cấp học, một nhà trường hay một giai đoạn cải cách cụ thể, mà là vấn đề liên quan trực tiếp đến “vận mệnh quốc gia”.
Một quốc gia muốn bước vào kỷ nguyên phát triển mới bằng tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì trước hết phải có một nền giáo dục đủ sức chuẩn bị những con người biết học hỏi, biết sáng tạo, biết hợp tác và biết chịu trách nhiệm.
Ngày hôm nay, “Đường lối đã rõ, thể chế đang mở, nguồn lực đã và đang được chuẩn bị. Vấn đề quyết định hiện nay là hành động, hành động quyết liệt, hiệu quả, đến nơi đến chốn, để hiện thực hóa khát vọng phát triển cao trong nhiều thập kỷ tới nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu và vươn lên nhóm quốc gia phát triển tiên tiến vào năm 2045”.
Tinh thần hành động ấy đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt và thực chất của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương, nhà trường, gia đình và toàn xã hội, nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, từng bước xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, nâng cao chất lượng con người Việt Nam, qua đó hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
PGS, TS Vũ Thị Phương Hậu