Kỳ vọng vượt mặt Thái Lan
Trong bài viết mới đây, tờ Nikkei Asia đánh giá với kết quả tăng trưởng năm 2025 và mục tiêu các năm tới, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đang trên đà vượt Thái Lan.
Theo bài báo, kinh tế Việt Nam vào năm 2026 dự kiến sẽ vượt qua Thái Lan – quốc gia lâu nay được xem là ưu tú trong thành tích phát triển ở Đông Nam Á. Bản đồ kinh tế khu vực ASEAN sẽ dần dần được vẽ lại, khi tốc độ phát triển của Việt Nam gần đây và trong nhiều năm tới dự kiến cao hơn Thái Lan. GDP của Việt Nam năm 2026 sẽ đạt loanh quanh mức 550 tỷ USD và cao hơn quốc gia xứ chùa vàng.
Hiện quy mô GDP của Việt Nam đã tiệm cận với Thái Lan. Nguồn: Tổng hợp từ World Bank.
Nhiều chuyên gia và tổ chức kinh tế lớn cũng kỳ vọng về khả năng bứt tốc của Việt Nam trong giai đoạn tới, đồng thời đặt lên bàn cân so với Thái Lan.
Trong bài viết mới đây, TS Trần Văn Thọ, Giáo sư kinh tế danh dự tại Đại học Waseda, Nhật Bản, chuyên gia kinh tế hàng đầu Việt Nam, thành viên các tổ tư vấn kinh tế Chính phủ, nhớ lại thời điểm 1993 – giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới - Việt Nam đi sau Thái Lan khoảng 25 năm.
Kết luận này được dựa trên những chỉ tiêu về GDP đầu người, thu nhập đầu người theo sức mua ngang giá (PPP), tỉ lệ đầu tư/GDP, chỉ số phát triển nguồn nhân lực, trình độ công nghiệp hóa (tỉ lệ giá trị gia tăng công nghiệp/GDP), tuổi thọ trung bình,…
Giờ đây, ông Thọ nhìn nhận quy mô nền kinh tế của Việt Nam sẽ vượt Thái Lan vào năm 2026. GS lưu ý dân số Việt Nam đông hơn Thái Lan (101 triệu và 72 triệu năm 2024) nên GDP đầu người của Việt Nam còn thấp hơn Thái Lan trong vài năm tới (năm 2024 là 4.700 và 7.987 USD). Tuy nhiên khoảng cách đã rút ngắn đáng kể so với năm 1993 (250 và 2.000 USD).
“Nhiều chỉ tiêu khác cũng cho thấy khuynh hướng tương tự. Chỉ số phát triển nguồn nhân lực năm 1990 của Việt Nam là 0.472 thấp xa so với Thái Lan là 0.715, nhưng đến năm 2023 thì hai chỉ số đó rất gần nhau, 0.766 và 0.798. Về tuổi thọ trung bình, năm 1990 Việt Nam kém Thái Lan 3,4 tuổi nhưng gần đây giảm còn 1,7 tuổi”, GS Trần Văn Thọ chỉ rõ và lưu ý rằng các con số nêu trên chỉ để tham khảo, cần bàn sâu hơn về chất lượng phát triển.
Một phần nguyên nhân Việt Nam có thể vượt Thái Lan đến từ yếu tố nội tại khi quốc gia này đang đối mặt với khủng hoảng nặng nề nhất trong 40 năm qua. Một trong số đó là vấn đề nợ hộ gia đình đã trở thành gánh nặng lớn. Còn ngành du lịch - ngành kinh tế mũi nhọn - lại chứng kiến sức phục hồi chậm hơn kỳ vọng.
Năm 2025, Việt Nam xây dựng 2 Trung tâm tài chính quốc tế tại TP HCM và Đà Nẵng - bước đi mang tầm nhìn chiến lược, phù hợp với xu thế phát triển của đất nước. Ảnh: Trung tâm tài chính quốc tế tại trung tâm quận 1, TP HCM.
Theo dự báo, tăng trưởng GDP của Thái Lan sẽ về mức thấp nhất 30 năm qua, dao động từ 1,6% đến 2%. Đông nghĩa, vị thế của Thái Lan đang bị Việt Nam đe dọa. Tờ Bangkok Post của quốc gia này viết: "Việt Nam đang nổi lên như một ngôi sao mới, thu hút dòng vốn nước ngoài với tốc độ ngày càng nhanh và làm thay đổi cục diện đầu tư trong khu vực".
Động lực tăng trưởng của Việt Nam dựa trên 4 trụ cột chính: Sản xuất, du lịch, hạ tầng và dân số, kết hợp lại tạo thành một “cỗ máy” tăng trưởng mạnh mẽ, theo Bangkok Post.
Và Thái Lan không thể "làm ngơ" trước đà phát triển mạnh mẽ của Việt Nam, theo ông Jongjarern Jomjakra, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Thái Lan tại Việt Nam (ThaiCham).
Tờ Bangkok Post so sánh, đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng là một phần trong kế hoạch đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế thu nhập cao vào năm 2045. Trong khi đó, hạ tầng của Thái Lan thường bị đánh giá là phát triển chậm hơn, làm dấy lên lo ngại nước này có thể mất lợi thế trong việc thu hút các ngành công nghiệp mới.
Mặt khác, chi phí lao động thấp hơn và lực lượng lao động trẻ hơn đang nghiêng cán cân về phía Việt Nam. Với độ tuổi trung bình khoảng 33, “dân số vàng” của Việt Nam tạo ra sự tương phản rõ rệt với lực lượng lao động đang già hóa của Thái Lan, nơi độ tuổi trung bình đã lên khoảng 40.
Lợi thế nhân khẩu học này giúp Việt Nam có nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn, trong khi Thái Lan phải đối mặt với ngày càng nhiều thách thức khi đã bước vào xã hội già hóa.
Du lịch cũng là một khía cạnh khác trong cuộc cạnh tranh. Việt Nam đang tăng cường thu hút khách quốc tế bằng cách trợ giá các chuyến bay, nâng cấp hạ tầng sân bay và đa dạng hóa điểm đến ngoài Hà Nội và TP.HCM.
Theo số liệu mới công bố, số lượng du khách đến Việt Nam năm 2025 đạt kỷ lục khi chạm mốc hơn 21 triệu lượt, tăng 20,4% so với năm trước đó và cao hơn 17,8% so với năm 2019 thời điểm trước dịch. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình phục hồi và hội nhập sâu rộng của Việt Nam với thị trường du lịch toàn cầu.
Theo Tổ chức Du lịch thế giới Liên Hợp Quốc (UNWTO), Việt Nam hiện nằm trong nhóm các điểm đến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới, cùng với Brazil, Ai Cập, Nhật Bản và Ethiopia. Lượng khách tại các thị trường này đều đã vượt mức trước đại dịch năm 2019.
Việt Nam hiện nằm trong nhóm các điểm đến có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới với số lượng khách trong năm 2025 hơn 21 triệu khách, vượt mức trước đại dịch. Ảnh minh họa: Báo Pháp luật TPHCM.
Trong 1 nhiệm kỳ qua, các sân bay Việt Nam đang được cải thiện mạnh mẽ về hạ tầng, dịch vụ và công nghệ, thể hiện qua việc Nội Bài, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất liên tục lọt top sân bay tốt nhất thế giới/khu vực theo bình chọn của Skytrax.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng chú trọng nâng cấp nhà ga T2 Nội Bài, xây nhà ga T3 Tân Sơn Nhất, và quy hoạch sân bay Long Thành, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng, nâng cao trải nghiệm hành khách và tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế.
Không những thế, hàng loạt các sân bay mới cũng đang xin cấp phép đầu tư, bổ sung thêm cơ sở hạ tầng trong bản đồ du lịch nước nhà.
Kinh tế Việt Nam tiến gần giấc mơ “hóa rồng”
Vượt qua những biến động phức tạp của tình hình địa chính trị toàn cầu và thách thức từ thiên tai, kinh tế Việt Nam năm 2025 ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02%, khẳng định vị thế dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng trong khu vực Đông Nam Á.
Năm 2025 cũng ghi dấu mốc lịch sử khi quy mô GDP Việt Nam chính thức vượt ngưỡng 500 tỷ USD (12.847,6 nghìn tỷ đồng), tăng 38 tỷ USD so với năm 2024.
Theo số liệu người viết thu thập được từ Cục Thống kê, trong 40 năm đổi mới (từ 1986) đến nay, chỉ có 2 năm Việt Nam tăng trưởng vượt 9% và có 6 năm tăng trưởng vượt 8%, tuy nhiên khi đó quy mô nền kinh tế còn nhỏ.
Suốt một giai đoạn dài sau đó, chưa năm nào đạt hơn 8% tăng trưởng GDP, trừ năm 2022 (sau điều chỉnh là 8,54%) khi kinh tế bật dậy sau đại dịch COVID-19 (cơn địa chấn này đã khiến tăng trưởng GDP không những của Việt Nam mà hầu hết quốc gia trên thế giới về mức thấp hiếm thấy).
Sau năm 2021 bị chững lại vì đại dịch, nhiệm kỳ vừa rồi Việt Nam đã đạt được dấu mốc tăng trưởng vượt bậc. Nguồn: Cục Thống kê.
Nhìn vào biểu đồ trên có thể thấy, nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 đã phải đối mặt với những thách thức chưa từng có: đại dịch COVID-19, thiên tai, biến động địa chính trị, khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bằng sự nỗ lực không ngừng nghỉ, rất nhiều chuyên gia kinh tế đều thống nhất rằng sức chống chịu của kinh tế Việt Nam đã cải thiện rất mạnh mẽ so với giai đoạn trước, bất chấp những khó khăn và thách thức lớn hơn nhiều xét cả trong và ngoài nước. Bình quân giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng GDP đạt khoảng 6,3%, cao hơn giai đoạn trước.
Quy mô GDP từ 346,6 tỷ USD năm 2020, xếp thứ 37 trên thế giới đã tăng lên trên 510 tỷ USD năm 2025, gấp 1,47 lần so với năm 2020. Thành tích này đã đưa Việt Nam tăng 5 bậc và xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN.
GDP bình quân đầu người gấp 1,4 lần, tăng từ 3.552 USD lên khoảng 5.000 USD. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 3.400 USD năm 2020 lên khoảng 4.700 USD năm 2025 và chính thức bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chứng kiến những chuyển dịch tích cực, công nghiệp chế biến - chế tạo và dịch vụ là động lực chính.
Trong năm 2025, cơ cấu GDP tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại khi Khu vực dịch vụ chiếm tỉ trọng 42,75%, đóng góp 51,08% vào mức tăng trưởng chung, với các ngành như bán lẻ, vận tải, logistics và du lịch tăng trưởng vượt trội.
Trong khi đó, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,65%, đóng góp 43,62%. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019, tiếp tục khẳng định vai trò "bệ đỡ" và là động lực tăng trưởng số một.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam năm vừa qua đã tăng 9,97% - mức tăng cao nhất kể từ năm 2019. Ảnh minh họa: VinFast.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tuy chỉ chiếm 11,64% và đóng góp 5,30%, nhưng tiếp tục đóng vai trò trụ đỡ vững chắc, bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội và là nguồn cung nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Không những tăng trưởng GDP và quy mô GDP leo top “rank”, cùng những biến chuyển trong cơ cấu GDP chuyển sang hiện đại hóa, hàng loạt chỉ số kinh tế đều bước vào thời kỳ tăng tốc mạnh mẽ, riêng năm 2025 đã tạo nên những cột mốc chưa từng thấy.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu vượt 900 tỷ USD vào năm 2025, đưa Việt Nam vào top 15 cường quốc thương mại toàn cầu - tạo bệ phóng mới cho tăng trưởng kinh tế.
Trong đó, xuất khẩu ước đạt trên 470 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2024. Việt Nam tiếp tục duy trì xuất siêu liên tục 10 năm, từ năm 2016, góp phần tạo nguồn ngoại tệ ổn định, giảm áp lực lên tỷ giá và củng cố dự trữ ngoại hối quốc gia.
Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng, trong đó, số thị trường đạt trên 1 tỷ USD tăng từ 27 vào 2013 lên 35 vào cuối năm ngoái.
Nguồn: Cục Hải quan.
Cùng với xuất nhập khẩu, các hoạt động sản xuất phục hồi mạnh mẽ trong năm qua. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước đạt 9,5%, mạnh hơn mức 8,2% của năm 2024. Việt Nam ký mới 4 hiệp định thương mại tự do (FTA), nâng tổng số FTA lên 17 hiệp định với 65 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Thị trường trong nước tăng trưởng 9-10%, quy mô thị trường thương mại điện tử lần đầu vượt mốc 30 tỷ USD. Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí 32 thế giới về giá trị thương hiệu quốc gia.
Yếu tố lạm phát cũng được kiểm soát hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô được giữ vững. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2025 chỉ tăng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát dưới 4,5% do Quốc hội đề ra.
Đây là một thành tựu quan trọng trong bối cảnh thế giới vẫn tiềm ẩn áp lực lạm phát và giá nguyên vật liệu đầu vào biến động. Việc kiểm soát tốt lạm phát đã giúp bảo vệ sức mua của người dân, tạo môi trường ổn định cho các doanh nghiệp hoạch định sản xuất, kinh doanh.
Về hạ tầng, chỉ trong 5 năm nhiệm kỳ, Việt Nam đã lập được 'kỳ tích' mới về chỉ tiêu đầu tư cơ sở hạ tầng với hơn 2.000 km cao tốc, gấp gần 2 lần con số có được trong 20 năm trước nhiệm kỳ.
Chỉ riêng trong năm 2025, Trung ương và địa phương đã khởi công, khánh thành 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng. Những công trình trải rộng trên nhiều lĩnh vực: từ bệnh viện, trường học, khu đô thị lớn, hạ tầng khu công nghiệp, đường bộ cao tốc đến các dự án đường sắt chiến lược.
Những dự án nổi bật như tuyến cao tốc Bắc – Nam, hoàn thành Cảng Hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1; đưa vào khai thác 3 dự án cảng biển (Lạch Huyện - Hải Phòng, Cái Mép - Thị Vải, Sông Hậu); đưa vào khai thác 03 tuyến đường sắt đô thị Bến Thành - Suối Tiên, Cát Linh - Hà Đông, đoạn trên cao tuyến Nhổn - ga Hà Nội,
Đây đều là những dự án có ý nghĩa lớn về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, đồng thời mở ra triển vọng mới, tạo không gian phát triển mới và hội nhập quốc tế.
Kinh tế khởi sắc, người dân có cuộc sống tốt hơn
Nhiều concert đẳng cấp quốc tế đã được thực hiện trong năm 2025 giúp nâng cao đời sống tinh thần, phục vụ người dân Việt Nam. Ảnh: VTV.
Những chỉ số kinh tế tăng trưởng đã đưa Việt Nam có vị thế vững chắc trên trường quốc tế trong nhiệm kỳ 2021 – 2025 vừa rồi. Còn về xã hội, cuộc sống người dân cũng ngày được nâng cao.
So với đầu nhiệm kỳ, tỷ lệ đô thị hóa đến nay đạt 45% (tăng 5% so với 12/2020); dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 94% (tăng 3%); diện tích nhà ở bình quân đạt 30m² sàn/người (tăng 5,6m²),…
Việc làm và thu nhập của người dân được cải thiện rõ rệt trong giai đoạn vừa qua. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm giảm dần, đặc biệt trong các ngành sản xuất, dịch vụ, du lịch.
Bên cạnh đó, các gói hỗ trợ tài khóa – tiền tệ quy mô lớn như giảm thuế VAT, hỗ trợ tiền thuê nhà, miễn giảm nhiều loại phí, lệ phí đã giúp giảm bớt gánh nặng chi tiêu và kích thích tiêu dùng trong xã hội.
An sinh xã hội tiếp tục được mở rộng với độ bao phủ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội ngày càng lớn, trong khi các nhóm yếu thế như người nghèo, người mất việc, người cao tuổi được hỗ trợ kịp thời hơn. Hệ thống y tế cơ sở được củng cố, công tác tiêm chủng và phòng chống dịch bệnh được đẩy mạnh, giúp người dân an tâm hơn về sức khỏe.
Song song đó, đầu tư hạ tầng giao thông và đô thị diễn ra mạnh mẽ với hàng loạt dự án cao tốc, vành đai, sân bay và cảng biển được triển khai, mang lại lợi ích trực tiếp cho người dân trong việc đi lại, kết nối vùng miền và mở ra nhiều cơ hội kinh doanh mới.
Đặc biệt, chuyển đổi số đã lan tỏa sâu rộng vào đời sống hằng ngày. Người dân ngày càng quen thuộc với dịch vụ công trực tuyến, căn cước công dân gắn chip, thanh toán không tiền mặt và các nền tảng số, qua đó tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao tính minh bạch.
App Định danh điện tử quốc gia do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (Bộ Công an) quản lý, vận hành, sẽ được phát triển thành “siêu ứng dụng" cung cấp các tiện ích số cho công dân trong tương lai. Ảnh: Bộ Công an.
Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2025, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam xếp thứ 46/143, tăng 31 bậc so với hồi 2021 và giúp Việt Nam đứng thứ hai khu vực ASEAN chỉ sau Singapore.
Điều này cho thấy chất lượng sống, an sinh xã hội, y tế, giáo dục, tự do của người dân được cải thiện, đưa Việt Nam lên vị trí cao nhất từ trước tới nay,
Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,9% năm 2024 và dự kiến đạt gần 1% vào năm 2025; độ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt 95%.
Chỉ số Phát triển Con người (HDI) - phản ánh chất lượng cuộc sống và năng lực con người, không chỉ riêng tăng trưởng kinh tế - đã tăng 18 lần theo báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP.
Đời sống của người dân không chỉ được thể hiện qua những con số kinh tế nói trên, mà còn thấy rõ trong hiện thực chất lượng cuộc sống và niềm tin tuyệt đối của người dân Việt vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự dẫn dắt của Đảng và Chính phủ.
Phương Hằng