Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay

Từ đổi thay lịch sử đến tầm vóc hôm nay
3 giờ trướcBài gốc
Đổi mới tư duy - Tạo nền tảng cho chuyển biến kinh tế sâu rộng
Công cuộc Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng tại Đại hội VI năm 1986 là bước ngoặt mang tính lịch sử, mở ra quá trình chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về mô hình kinh tế mà còn là sự thay đổi sâu sắc trong tư duy phát triển, phương thức quản lý và cách thức huy động, phân bổ các nguồn lực của toàn xã hội.
Trong giai đoạn đầu Đổi mới, một trong những thách thức lớn nhất của nền kinh tế là tình trạng lạm phát phi mã, mất cân đối vĩ mô nghiêm trọng. Việc kiểm soát thành công lạm phát từ mức đỉnh 874,7% năm 1986 xuống còn 167,1% năm 1990 và tiếp tục duy trì ở mức dưới 10% vào cuối thập niên 1990 là thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Ổn định kinh tế vĩ mô đã tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, củng cố niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, đồng thời đặt nền móng cho tăng trưởng bền vững trong các giai đoạn tiếp theo.
Ảnh tư liệu minh họa
Song song với đó, việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã đánh dấu bước mở cửa quan trọng của nền kinh tế. Lần đầu tiên, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cùng với công nghệ, kinh nghiệm quản lý hiện đại được khuyến khích và bảo đảm về mặt pháp lý. Cơ chế bao cấp kéo dài nhiều năm từng bước được xóa bỏ; vai trò của khu vực kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế ngoài nhà nước được thừa nhận và phát huy. Những thay đổi này đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực xã hội, tạo động lực cho tăng trưởng.
Nhờ những quyết sách kịp thời và đúng hướng, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1987 - 1990 đạt bình quân 4,97%/năm; bước sang thập niên 1990, mức tăng trưởng được cải thiện rõ rệt, đạt bình quân 7,73%/năm. Đặc biệt, trong giai đoạn 1992 - 1997, tăng trưởng GDP bình quân lên tới 8,89%/năm,
phản ánh sức bật mạnh mẽ của nền kinh tế khi các rào cản về tư duy và thể chế được tháo gỡ. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam từng bước bình thường hóa quan hệ đối ngoại, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho tiến trình hội nhập sâu rộng sau này.
Diện mạo kinh tế đổi thay rõ nét
Bước sang thế kỷ XXI, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đạt nhiều dấu mốc quan trọng. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1/2007 đã mở ra không gian phát triển mới, tạo điều kiện để hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường toàn cầu, đồng thời thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia.
Trong giai đoạn 2001 - 2010, nền kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức bình quân 7,12%/năm. Dù phải đối mặt với những cú sốc lớn từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và những biến động khó lường của kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn giữ được đà tăng trưởng tương đối ổn định. Giai đoạn 2011 - 2020, trong bối cảnh nhiều thách thức đan xen, tăng trưởng kinh tế vẫn đạt bình quân 6,21%/năm, thể hiện khả năng chống chịu và thích ứng đáng kể của nền kinh tế.
Đồ họa: Phương Anh
Cùng với quá trình hội nhập, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, nhường chỗ cho sự phát triển của công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Nhiều trung tâm công nghiệp lớn được hình thành; Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Đến năm 2025, diện mạo kinh tế đất nước đã có những thay đổi căn bản. Tăng trưởng GDP ước đạt 8,02%, đưa quy mô nền kinh tế lên khoảng 514 tỷ USD. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần so với năm 2020, chính thức đưa Việt Nam gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Các chỉ số an toàn tài chính được duy trì vững chắc: nợ công khoảng 34,4% GDP, nợ Chính phủ khoảng 32,6% GDP - thấp hơn nhiều so với ngưỡng cảnh báo; lạm phát bình quân khoảng 3,31%, nằm trong mục tiêu kiểm soát.
Đáng chú ý, các động lực tăng trưởng mới ngày càng thể hiện rõ vai trò. Kinh tế số phát triển nhanh, với giá trị tăng thêm năm 2025 ước đạt khoảng 72,1 tỷ USD, đóng góp 14,02% GDP. Khu vực đối ngoại tiếp tục là điểm sáng khi vốn FDI thực hiện đạt mức kỷ lục 27,62 tỷ USD, tăng 9% so với năm 2024; nhiều dự án lớn trong các lĩnh vực bán dẫn, năng lượng tái tạo và công nghệ cao được triển khai. Cùng với đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,2%; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt 930 tỷ USD, tăng 18,2%, tạo nên thế cân bằng tương đối vững chắc cho nền kinh tế.
Tận dụng thời cơ - Tạo bứt phá cho giai đoạn phát triển mới
Giai đoạn tới, Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, chuyển dịch theo hướng đa cực và phân mảnh. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt cùng nguy cơ “đa khủng hoảng”, chiến tranh thương mại gây áp lực lớn lên nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam. Bên cạnh xu thế bùng nổ của công nghệ mới, các thách thức an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, già hóa dân số và an ninh nguồn nước đang đe dọa sự ổn định bền vững toàn cầu. Ở trong nước, dù vị thế và uy tín quốc tế được nâng cao sau 40 năm Đổi mới, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn. Nguy cơ tụt hậu về công nghệ, khả năng rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tính tự chủ của nền kinh tế chưa cao là những thách thức hiện hữu. Cùng với đó, tình trạng chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và thiên tai đòi hỏi những giải pháp quyết liệt để bảo vệ thành quả phát triển và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, trong khó khăn luôn tiềm ẩn những cơ hội xoay chuyển cục diện. Thành công rực rỡ của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là kim chỉ nam chiến lược, khơi thông nguồn lực và củng cố niềm tin vững chắc cho toàn hệ thống chính trị cũng như cộng đồng doanh nghiệp. Nghị quyết Đại hội XIV không chỉ xác định rõ các đột phá về thể chế phát triển mà còn mở ra “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” với tư duy đổi mới mạnh mẽ. Việt Nam đang đứng trước những cơ hội để thâm nhập sâu vào các chuỗi giá trị chiến lược toàn cầu nhờ việc nâng cấp quan hệ với các cường quốc công nghệ hàng đầu.
Việc tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi năng lượng xanh… đang biến Việt Nam thành “thỏi nam châm” thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới. Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới tiếp tục là đòn bẩy để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào nền kinh tế số và kinh tế tuần hoàn. Với sự đồng lòng và quyết tâm chính trị cao nhất từ Đại hội XIV, Việt Nam đang nắm giữ vận hội lớn để phá vỡ các điểm nghẽn, từ đó khẳng định tầm vóc của một nền kinh tế năng động, tự chủ và phát triển bền vững trên bản đồ thế giới.
Đồ họa: Phương Anh
Để duy trì đà tăng trưởng và đạt được mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong giai đoạn tới, việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại là ưu tiên hàng đầu. Chúng ta cần tạo ra những đột phá mạnh mẽ trong tư duy chính sách, xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch và đồng bộ nhằm giải phóng tối đa sức sản xuất của mọi thành phần kinh tế. Thể chế mới không chỉ cần sự ổn định mà còn phải có độ mở cần thiết để thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh và khơi thông mọi nguồn lực xã hội còn đang tiềm ẩn. Đây chính là đòn bẩy quan trọng nhất để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.
Trong lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng chính. Việc chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao là yêu cầu cấp thiết để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Thay vì dựa vào các ngành thâm dụng lao động giá trị thấp, chúng ta sẽ tập trung phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế không chỉ phát triển nhanh mà còn phải gắn liền với bảo vệ môi trường, thực hiện cam kết phát triển bền vững và tăng trưởng xanh.
Song song đó, bám sát tinh thần Nghị quyết số 79/NQ-TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, Việt Nam khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng, định hướng chuyển mạnh sang quản trị hiện đại và kiến tạo phát triển, tách bạch rõ chức năng sở hữu với quản lý kinh tế. Giải pháp then chốt là xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, phân biệt rõ sai sót khách quan để khơi thông nguồn lực sáng tạo. Đồng thời, chuẩn hóa và liên thông dữ liệu quốc gia về nguồn lực nhà nước sẽ tạo nền tảng số hóa, giúp hoạch định chính sách hiệu quả và chính xác trong kỷ nguyên mới, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Ngoài ra, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được coi là chìa khóa để làm chủ công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Việt Nam sẽ tập trung đào tạo đội ngũ chuyên gia, kỹ sư trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược theo định hướng của Chính phủ, đặc biệt là kỹ năng số và tư duy sáng tạo. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tế sản xuất. Đồng thời, chúng ta cần tiếp tục coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng, xóa bỏ mọi rào cản và định kiến để khu vực này thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ cho toàn nền kinh tế. Ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, năng lượng tái tạo và hạ tầng số sẽ giúp giảm chi phí logistics và tăng năng lực cạnh tranh. Bằng cách phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa và tiền tệ, cùng với việc chủ động hội nhập và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, Việt Nam hoàn toàn có thể biến những thách thức từ dòng chảy kinh tế toàn cầu thành lực đẩy để nâng cao vị thế dân tộc, vững vàng tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ 21.
TS. Nguyễn Như Quỳnh - Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính
Nguồn Thời báo Tài chính : https://thoibaotaichinhvietnam.vn/tu-doi-thay-lich-su-den-tam-voc-hom-nay-192334.html