Hội trường nơi tổ chức Đại hội lần thứ II của Đảng tại Kim Bình.
Đại hội họp từ ngày 11 đến 19-2-1951, sau 15 năm, 8 tháng kể từ Đại hội Đảng lần thứ nhất. Tham dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên đang sinh hoạt trong Đảng bộ toàn Đông Dương. Dự Đại hội có đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Thái Lan.
Với khẩu hiệu “Đoàn kết, nhất trí, giành độc lập cho Tổ quốc, dân chủ cho nhân dân và hòa bình cho thế giới”, Đại hội đã thảo luận kỹ và thông qua Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Luận cương cách mạng Việt Nam của đồng chí Trường Chinh, báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng của đồng chí Lê Văn Lương, cùng nhiều báo cáo bổ sung về Mặt trận dân tộc thống nhất, chính quyền dân chủ, nhân dân, Quân đội nhân dân, kinh tế - tài chính và về văn hóa, văn nghệ...
Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng; quyết định tập trung mọi lực lượng để kháng chiến, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại can thiệp Mỹ, đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành đã cử ra Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng. Đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư.
Đại hội II in dấu ấn rất đặc biệt trong pho sử vàng của Đảng ta, là đại hội của tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc, với một khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do cho dân tộc: “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Đại hội II là bài học sâu sắc về quan điểm kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; kiên định giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội; nắm chắc quan điểm bảo đảm trên hết và trước hết lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, mở rộng hợp tác quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Những quyết sách từ Đại hội thấm nhuần bài học “dân là gốc”, cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, thể hiện khát vọng giành độc lập, giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Thành công của Đại hội II năm 1951 có sự góp sức không nhỏ của Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang, nhất là nhân dân các xã Vinh Quang, Kim Bình, Kiên Đài và các xã lân cận để chuẩn bị cơ sở vật chất và đảm bảo bí mật, an toàn tuyệt đối cho Đại hội.
Tự hào được đón Bác Hồ và các đại biểu về dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tại Kim Bình, Quân và dân Tuyên Quang cũng tự hào vì đã đóng góp xứng đáng vào thành công của Đại hội lần thứ II của Đảng, thành công của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Tự hào được đóng góp vào thành công của Đại hội II Kim Bình, Tuyên Quang cũng tự hào vì luôn xứng đáng là Thủ đô Khu Giải phóng, Thủ đô Kháng chiến, luôn thủy chung với Đảng, với Bác Hồ và các giai đoạn của cách mạng Việt Nam.
Đó chính là truyền thống quý báu, là động lực tinh thần to lớn để Tuyên Quang vừa kỷ niệm 75 năm Đại hội II, vừa triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất, Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, cùng cả nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Tuyên Quang