Riêng đối với những người Đồng Nai từng đi qua chiến tranh, bỗng bừng lên nỗi nhớ vị cha già của dân tộc. Bởi cách đây gần 60 năm (ngày 17-7-1966), qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam mà hồi ấy thường gọi là Đài Hà Nội, dưới những tán rừng miền Đông, trong những xóm lao động ở thị xã Biên Hòa, An Lộc…, mọi người đã lặng im lắng nghe lời kêu gọi của Bác Hồ: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm…, song nhân dân Việt Nam nhất quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Chỉ với 9 từ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên một chân lý bất biến, mang giá trị thời đại vô cùng sâu sắc. Chân lý vĩnh hằng này, hẳn được hình thành sau hơn 55 năm người con của làng Sen ra đi tìm đường cứu nước (từ ngày 5-6-1911), sau 25 năm, Người trở về đến Cao Bằng (ngày 28-1-1941) và 20 năm Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (ngày 19-12-1946). Kích cỡ thời gian của những mốc son lịch sử ấy, là quá trình tiếp thu, gạn lọc, nghiền ngẫm, trải nghiệm của một người mà sau này, được thế giới vinh danh là Anh hùng giải phóng dân tộc - nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Khát vọng lớn nhất của Hồ Chí Minh là thực hiện trọn vẹn tiêu ngữ quốc gia: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được Người đặt dưới Quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Người khai sáng hồi mùa Thu năm 1945. Tiêu ngữ quốc gia ấy là lý tưởng, là mục tiêu, là khát vọng cháy bỏng trong lòng Hồ Chí Minh. Và ước mong “…Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đây không chỉ là mong ước của một người dành cả đời lo cho hạnh phúc của nhân dân mà còn là mệnh lệnh cho toàn Đảng với tư cách là một đảng cầm quyền.
Nội dung này cũng được Bác Hồ gửi gắm trong bản Di chúc thiêng liêng của Người được công bố vào năm 1969: “Còn non, còn nước, còn người/Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.
Đến nay (năm 2026), với quy mô về diện tích, dân số, chỉ số về GRDP, thu nhập bình quân đầu người… của thành phố Đồng Nai, cháu con những người của miền đất mang tên sông, có quyền khiêm tốn, tự hào đã có đóng góp nhỏ bé, nhưng có ý nghĩa tích cực vào công cuộc xây dựng dáng đứng thành phố Đồng Nai công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập và phát triển.
Đọc nội dung quyển Địa chí tỉnh Biên Hòa (Monographie de la Province de Bien Hoa) của M.Robert, nguyên Phó Tham biện Dân sự Đông Dương, do Nhà in Sài Gòn Louis Minh xuất bản năm 1924 (kỹ sư Lê Tùng Hiếu và bác sĩ Nguyễn Văn Phúc biên dịch và hiệu đính) là người từng góp đôi con chữ trong bộ Địa chí Đồng Nai, tôi thực sự xúc động và càng tự hào hơn khi nghe đài giới thiệu về thành phố Đồng Nai - đơn vị hành chính mà Quốc hội vừa “đóng những cây đinh vàng” vào lịch sử hành chính Việt Nam đương đại.
Từ những năm 20 có lẻ của thế kỷ 21, đọc những ghi chép của M.Robert, chúng ta thấy: Quy mô diện tích của tỉnh Biên Hòa những năm 20 của thế kỷ trước là 11.200km2 nhưng dân số người Kinh chỉ có 115.595 người, chiếm 90% dân số toàn tỉnh; còn dân tộc thiểu số chỉ có 11.400 người và một số bản làng người S’tiêng chưa được đưa vào sổ thống kê. Người dân tộc thiểu số của thành phố Đồng Nai hiện nay khoảng 450 ngàn người/khoảng 5 triệu người, chiếm gần 10% dân số toàn thành phố, tăng gấp hơn 40 lần so với hồi M.Robert ghi chép. Nhờ các chính sách xóa đói, giảm nghèo đa chiều, đời sống vật chất và tinh thần của bà con dân tộc thiểu số đang chuyển biến rõ rệt.
Nếu tính về quy mô, diện tích của thành phố Đồng Nai hiện nay so với tỉnh Biên Hòa hồi M.Robert ghi chép Địa chí tỉnh Biên Hòa thì không có sai số lớn nhưng về sức sản xuất nội sinh năm 2025, thành phố đã làm ra giá trị 677 ngàn tỷ đồng, đứng thứ tư cả nước; GRDP bình quân đầu người của Đồng Nai đạt hơn 150 triệu đồng/người, đứng thứ 3 cả nước. Không dừng lại ở đó, với việc Trung ương, địa phương dồn sức đầu tư kết nối hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn Cảng hàng không quốc tế Long Thành với siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; dự phóng những kế hoạch lớn để phát huy dư địa phát triển bằng tầm nhìn dài hạn, hy vọng thành phố Đồng Nai sẽ tiếp tục năng động hội nhập phát triển.
Khát vọng vươn mình cùng dân tộc, chủ động xây dựng Đồng Nai và góp phần cùng cả nước xây dựng “đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong ước của Bác Hồ.
Người dân của miền đất ven sông tự hào là công dân của thành phố Đồng Nai.
Mai Sông Bé