Bức tranh năng lượng toàn cầu đầu tháng 3-2026 đang kẹt trong một cuộc giằng co. Một bên là mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng không) thúc đẩy các quốc gia giảm phát thải; bên kia là những xung đột leo thang tại Trung Đông đang giáng những đòn mạnh vào các chuỗi cung ứng năng lượng.
Xung đột địa chih1 trị đang diễn ra trên thế giới được cho là sẽ làm gia tăng nhu cầu về tín chỉ carbon trong thị trường tuân thủ (gọi tắt là CCM). Ảnh: TL
Theo thông tin mới nhất từ hãng tin Bloomberg, QatarEnergy vừa phải lùi thời hạn khởi động dự án mở rộng khí hóa lỏng (LNG) lớn của mình sang ít nhất là năm 2027. Trước đó, nhà máy LNG lớn nhất thế giới tại Qatar cũng buộc phải đóng cửa do bị ảnh hưởng bởi xung đột ở Trung Đông.
Biến động này không chỉ dừng lại ở một cuộc khủng hoảng năng lượng thông thường, mà theo nhận định của hãng tin này, còn có khả năng làm gia tăng nhu cầu về tín chỉ carbon trong thị trường tuân thủ (gọi tắt là CCM).
Khi nguồn cung khí thiên nhiên khan hiếm và các dự án mới bị trì hoãn, các ngành công nghiệp buộc phải quay lại với những nhiên liệu khác có phát thải cao hơn như than đá. Theo ghi nhận tại Đài Loan hay Ý, các nhà máy nhiệt điện than đã phải tăng công suất hoặc duy trì ở trạng thái sẵn sàng vận hành để ứng phó.
Trong thời đại hiện nay khi các quy định về môi trường ngày càng thắt chặt, lượng phát thải từ những nhiên liệu này không còn là con số thống kê trên giấy tờ, mà là một khoản nợ tài chính trực tiếp, làm bùng nổ nhu cầu mua hạn ngạch carbon. Khi khủng hoảng năng lượng đẩy giá “quyền phát thải” (right to emit) – một khái niệm nổi lên những năm gần đây trên thế giới - lên cao, thị trường CCM không còn là một cuộc thử nghiệm chính sách. Nó đã trở thành câu chuyện tài chính, nơi hạn ngạch phát thải được định giá như một loại tài nguyên.
Chuyển dịch toàn cầu: Từ tự nguyện sang tuân thủ
Và theo các nhận định, sự bất ổn địa chính trị hiện nay trên thế giới sẽ sớm đặt dấu chấm hết cho kỷ nguyên của những cam kết carbon mang tính tự nguyện (gọi tắt là VCM) và thúc đẩy thị trường CCM. Tính đến năm 2026, quy mô thị trường CCM toàn cầu ước tính vượt ngưỡng 1.500 tỉ đô la Mỹ, chiếm hơn 99% tổng giá trị các giao dịch tài chính liên quan đến carbon (2).
Đòn bẩy mạnh nhất cho xu hướng này chính là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu, đã vận hành đầy đủ từ đầu năm 2026. Bằng cách đánh thuế carbon lên các mặt hàng nhập khẩu như thép, xi măng và điện năng, CBAM buộc các nhà xuất khẩu châu Á phải đứng trước hai lựa chọn: hoặc nộp phạt cho EU, hoặc tự xây dựng thị trường carbon trong nước để giữ lại nguồn thu này.
Việc các dự án LNG tại Qatar bị trì hoãn được cho là càng đẩy nhanh tiến trình này; khi doanh nghiệp phải dùng các nhiên liệu khác, bao gồm than đá để duy trì sản xuất trong cơn khát khí đốt, cường độ phát thải của họ tăng lên, khiến họ càng dễ bị tổn thương trước hàng rào thuế quan của CBAM.
Phương diện khác, thị trường toàn cầu cũng thay đổi căn bản khi hệ thống giao dịch phát thải (ETS) của Trung Quốc ra đời từ năm 2021 dự kiến sẽ sớm bao phủ khoảng 8 tỉ tấn CO2 mỗi năm, theo ICAP (Diễn đàn hợp tác liên chính phủ toàn cầu tập trung vào việc thiết kế và vận hành ETS trong thị trường CCM). Bên cạnh đó, việc Trung Quốc chuyển sang mô hình “áp trần tuyệt đối” vào năm 2027, cùng với giá carbon tại EU duy trì ở mức 80-100 đô la Mỹ/tấn, đã biến hạch toán carbon thành điều kiện bắt buộc trong giao thương quốc tế.
Trong bối cảnh đó, thị trường CCM là cơ chế duy nhất có khả năng định giá được những rủi ro từ biến động năng lượng. Các chính phủ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương dần nhận ra rằng nếu không có một thị trường carbon nội địa đủ mạnh, nền công nghiệp của họ sẽ bị ảnh hưởng xấu bởi các loại thuế carbon quốc tế mỗi khi chiến sự làm gián đoạn nguồn cung năng lượng. Đây là lý do vì sao việc chuyển dịch từ VCM sang CCM sẽ thành xu hướng (3).
Cột mốc tín chỉ carbon 2026 của Việt Nam
Các cơ sở lớn thuộc ba lĩnh vực: nhiệt điện, sắt thép và xi măng tại Việt Nam đang được thí điểm phân bổ hạn ngạch tín chỉ carbon. Ảnh: TL
Giữa những biến động toàn cầu và thay đổi xu hướng tín chỉ carbon, Việt Nam cũng đang có những giải pháp phù hợp với điều kiện trong nước và đáp ứng các yêu cầu của quốc tế. Cụ thể, tháng 3 này có đánh dấu bước chuyển từ lập kế hoạch sang vận hành thực tế của mô hình tín chỉ carbon tại Việt Nam.
Nền tảng pháp lý được định hình từ Nghị định 29/2026/NĐ-CP ban hành ngày 19-1-2026, thiết lập hành lang cho sàn giao dịch carbon trong nước sẽ vận hành thí điểm cuối năm nay. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt hạn ngạch phát thải cho giai đoạn thí điểm 2025-2026. Cụ thể, hạn ngạch được phân bổ cho 110 cơ sở lớn thuộc ba lĩnh vực: nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Đây là những ngành có cường độ phát thải cao và cũng là những nhóm chịu rủi ro lớn nhất từ xu hướng quay lại với nhiên liệu hóa thạch do ảnh hưởng của khủng hoảng năng lượng kéo dài và là "nguồn tài chính" tiềm năng trong thị trường CCM.
Theo nghị định, tuy rằng làm thí điểm, nhưng hệ thống quản lý được thiết kế chặt chẽ. Hệ thống đăng ký quốc gia mới được thiết lập sẽ giám sát từng tấn CO2, đảm bảo thị trường minh bạch và công bằng. Để giúp doanh nghiệp ứng phó với sự biến động giá như trên thị trường thế giới, Việt Nam cho phép các cơ sở vay tối đa 15% hạn ngạch của năm kế tiếp nếu phát thải vượt mức. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể dùng các tín chỉ carbon chất lượng cao từ các dự án lâm nghiệp hay năng lượng tái tạo để bù trừ tối đa 30% lượng phát thải.
Và đơn cử, khi nguồn cung LNG thế giới tiếp tục bất ổn vì xung đột tại Trung Đông, những doanh nghiệp nào sớm đầu tư vào hiệu suất năng lượng sẽ sở hữu hạn ngạch tín chỉ carbon dư thừa. Lượng hạn ngạch này có thể được giao dịch trên sàn chứng khoán Hà Nội (HNX), biến nghĩa vụ môi trường thành một nguồn thu tài chính thực thụ.
Nhân Tâm