Từ lo âu đến khủng hoảng vì ám ảnh bệnh tật

Từ lo âu đến khủng hoảng vì ám ảnh bệnh tật
3 giờ trướcBài gốc
Ảnh minh họa.
Ám ảnh bệnh tật kéo dài, nam thanh niên nhập viện trong cơn hoảng loạn
Nam bệnh nhân 27 tuổi, công nhân tại một nhà máy may ở Hà Nội, nhập viện trong trạng thái hoảng loạn, khó thở dồn dập, tay chân co quắp sau nhiều tháng sống trong nỗi ám ảnh mình mắc bệnh hiểm nghèo.
Trước đó, anh liên tục xuất hiện cảm giác tức ngực, khó thở và nghi ngờ cơ thể có khối u ác tính dù đã đi khám tại nhiều bệnh viện tuyến Trung ương, thực hiện hàng loạt xét nghiệm chuyên sâu như nội soi tai mũi họng, đo chức năng hô hấp, chụp X-quang, CT lồng ngực, siêu âm tim… nhưng tất cả kết quả đều bình thường.
Theo các bác sĩ, nam thanh niên có tính cách nhạy cảm, lo âu kéo dài do ảnh hưởng từ tuổi thơ nhiều áp lực và căng thẳng công việc. Việc liên tục suy nghĩ tiêu cực khiến anh mất ngủ, bỏ bê công việc, thu mình và dần xuất hiện ý nghĩ tự sát. Khi được đưa tới Viện Sức khỏe tâm thần, các thang đánh giá cho thấy bệnh nhân bị trầm cảm nặng, lo âu và ám ảnh bệnh tật ở mức cao.
Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Thanh Tùng cho biết, người mắc rối loạn lo âu nghi bệnh không giả vờ mà thực sự đau khổ, tuyệt vọng vì luôn tin rằng mình đang mắc bệnh nguy hiểm dù không có tổn thương thực thể.
Trong xã hội hiện đại, nhiều người đang âm thầm sống trong nỗi lo bệnh tật kéo dài, liên tục đi khám, xét nghiệm dù không có tổn thương thực thể rõ ràng.
Theo bác sĩ chuyên khoa II Vũ Thị Lan, Viện Sức khỏe tâm thần, người mắc rối loạn này thường có những biểu hiện điển hình như “thảm họa hóa” các phản ứng cơ thể. Một nốt mẩn ngứa nhỏ có thể bị suy diễn thành ung thư da; cơn ho thoáng qua bị mặc định là lao phổi hoặc khối u ác tính.
Nhiều người rơi vào tình trạng “cuồng bác sĩ Google”, dành hàng giờ tra cứu triệu chứng trên mạng, tự chẩn đoán bệnh và áp dụng các phương pháp điều trị cực đoan. Họ liên tục đo huyết áp, bắt mạch, soi gương kiểm tra cơ thể nhiều lần trong ngày.
Một số người liên tục đổi bác sĩ, yêu cầu làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu vì cho rằng bệnh chưa được phát hiện đúng. Ngược lại, có người lại né tránh hoàn toàn việc đi khám vì quá sợ hãi phải đối diện với kết quả xấu.
Theo các bác sĩ, không ít người vẫn cho rằng đây chỉ là “bệnh tưởng tượng” hoặc người bệnh “giả vờ”. Tuy nhiên, y học hiện đại cho thấy rối loạn lo âu bệnh tật có liên quan rõ rệt tới yếu tố sinh học và hoạt động của não bộ.
Căn bệnh này có tính di truyền nhất định và liên quan đến sự mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh như serotonin hay dopamine – những chất đóng vai trò điều hòa cảm xúc. Các nghiên cứu chụp cộng hưởng từ chức năng não cũng ghi nhận sự tăng hoạt động bất thường tại vùng thùy đảo và hạch hạnh nhân – những khu vực xử lý cảm giác cơ thể và nỗi sợ hãi.
Khi hệ thống này “báo động sai”, những phản ứng hoàn toàn bình thường của cơ thể như tim đập nhanh khi đi bộ, mỏi cơ nhẹ hay khó thở thoáng qua cũng có thể bị não bộ diễn giải thành tín hiệu nguy hiểm đến tính mạng.
Khi nào cần can thiệp để tránh những hệ lụy về sức khỏe tâm thần?
Các chuyên gia cho rằng những người có tính cách hướng nội, cầu toàn, nhạy cảm hoặc từng trải qua sang chấn tuổi thơ như chứng kiến người thân bệnh nặng, mất sớm hay lớn lên trong môi trường bao bọc quá mức sẽ dễ mắc rối loạn này hơn khi gặp áp lực ở tuổi trưởng thành.
Theo các bác sĩ, nếu kéo dài hơn 6 tháng, rối loạn lo âu bệnh tật không chỉ gây lãng phí tiền bạc, thời gian do đi khám và xét nghiệm quá mức, mà còn làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch thật sự vì cơ thể luôn trong trạng thái căng thẳng kéo dài.
Để giúp bản thân hoặc người thân thoát khỏi vòng lặp này, các chuyên gia khuyến cáo một số biện pháp quan trọng.
Trước hết, cần hạn chế việc tự tra cứu triệu chứng trên mạng. Việc tiếp nhận quá nhiều thông tin thiếu kiểm chứng dễ khiến não bộ “gán bệnh” cho cơ thể và làm lo âu ngày càng nghiêm trọng hơn.
Người bệnh cũng nên tập kiểm soát suy nghĩ bằng cách đối chiếu nỗi sợ với các bằng chứng thực tế. Ví dụ, khi xuất hiện ý nghĩ “đau ngực chắc bị nhồi máu cơ tim”, hãy nhìn lại kết quả điện tim, siêu âm tim hay các đánh giá chuyên môn trước đó để giúp não bộ điều chỉnh nhận thức theo hướng khách quan hơn.
Bên cạnh đó, việc duy trì hoạt động thể chất, thể thao, sở thích lành mạnh và giao tiếp xã hội cũng giúp giảm sự tập trung quá mức vào các cảm giác cơ thể.
Bác sĩ khuyến cáo, quan trọng nhất, khi các biện pháp tự kiểm soát không còn hiệu quả, người bệnh cần được thăm khám chuyên khoa tâm thần càng sớm càng tốt. Hiện nay, các phương pháp như liệu pháp nhận thức-hành vi (CBT), kết hợp điều trị thuốc và các kỹ thuật điều biến não hiện đại như kích thích từ xuyên sọ (rTMS) đã giúp nhiều người kiểm soát được nỗi sợ bệnh tật và lấy lại cuộc sống bình thường.
TRẦN LAM
Nguồn Nhân Dân : https://nhandan.vn/tu-lo-au-den-khung-hoang-vi-am-anh-benh-tat-post964967.html