“Cởi trói” để doanh nghiệp khoa học, công nghệ vươn tầm khu vực. Ảnh: Phạm Hùng.
Thể chế chưa theo kịp thực tiễn phát triển doanh nghiệp công nghệ
Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học và công nghệ ngày càng trở thành nền tảng cốt lõi của năng lực cạnh tranh quốc gia. Tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tăng nhanh trong những năm gần đây, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, bán dẫn vi mạch. Tuy nhiên, tốc độ phát triển này vẫn chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng của khu vực doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quân - Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, cả nước hiện mới chỉ có khoảng 1.000 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, một con số còn khá khiêm tốn nếu so với quy mô và nhu cầu đổi mới của nền kinh tế. Thực tế này cho thấy, những rào cản về chính sách và cơ chế thực thi vẫn đang “ghìm chân” doanh nghiệp.
Một trong những nguyên nhân căn bản là doanh nghiệp chưa thực sự cảm nhận được lợi ích rõ ràng từ các chính sách ưu đãi hiện hành. Các cơ chế hỗ trợ về thuế, đất đai, tín dụng dù đã được ban hành nhưng trên thực tế vẫn khó tiếp cận. Quy trình thủ tục còn phức tạp, hướng dẫn thiếu cụ thể khiến chi phí tuân thủ cao, làm giảm động lực tham gia của doanh nghiệp.
Đáng chú ý, nhiều vướng mắc không nằm ở bản thân Luật Khoa học và Công nghệ mà xuất phát từ sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật. Trong khi luật chuyên ngành đã có những đổi mới theo hướng khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, thì một số quy định tại các luật liên quan vẫn mang tư duy quản lý cũ, chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Điều này khiến quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu khoa học thành sản phẩm, dịch vụ thương mại gặp nhiều trở ngại.
Ở góc độ chính sách, Nghị quyết số 57-NQ/TƯ được đánh giá là có điểm khác biệt khi nhấn mạnh rõ tinh thần hành động và thực thi. Việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc tháo gỡ các “nút thắt” tồn tại lâu nay. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là việc cụ thể hóa nghị quyết thành những thay đổi thực chất trong hệ thống pháp luật và cơ chế vận hành.
Mở không gian chính sách để doanh nghiệp công nghệ vươn ra khu vực
Không chỉ dừng lại ở mục tiêu gia tăng số lượng, Nghị quyết số 57-NQ/TƯ hướng tới xây dựng lực lượng doanh nghiệp khoa học, công nghệ có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và quốc tế. Để đạt được mục tiêu này, yêu cầu đặt ra là phải mở rộng không gian chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Cùng với Nghị quyết số 57-NQ/TƯ, Nghị quyết số 68-NQ/TƯ về phát triển kinh tế tư nhân được xem là trụ cột quan trọng bổ trợ cho quá trình này. Khi các quan điểm đột phá của hai nghị quyết được thể chế hóa đồng bộ, doanh nghiệp khoa học, công nghệ sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để mở rộng quy mô, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước vươn ra thị trường khu vực.
Trong bức tranh chung đó, Hà Nội được xem là địa phương có nhiều lợi thế nổi trội. Thủ đô hiện dẫn đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đồng thời là nơi tập trung đội ngũ nhà khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học lớn. Luật Thủ đô sửa đổi cùng các nghị quyết đặc thù của HĐND thành phố về khoa học và công nghệ được kỳ vọng sẽ tạo dư địa chính sách rộng hơn cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, bài toán lớn nhất của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh nghiệp khởi nghiệp, vẫn là nguồn lực tài chính. Tài sản cốt lõi của các doanh nghiệp này chủ yếu là tài sản trí tuệ, trong khi khả năng tiếp cận vốn còn hạn chế. Việc hình thành và vận hành hiệu quả các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển khoa học và công nghệ với cơ chế phù hợp được xem là điều kiện then chốt để doanh nghiệp bứt phá.
Ở góc độ chuyên gia từng nhiều năm gắn bó với lĩnh vực quản lý khoa học và công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Quân cho rằng, nếu Hà Nội tận dụng tốt các cơ chế đặc thù, đồng thời lựa chọn rõ những công nghệ chiến lược và sản phẩm chủ lực, doanh nghiệp công nghệ của Thủ đô hoàn toàn có cơ hội vươn lên, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực ASEAN.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số và tự động hóa tiếp tục được xác định là công cụ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, gia tăng giá trị và mở rộng thị trường. Thực tế cho thấy, Hà Nội nhiều năm liền giữ vị trí dẫn đầu cả nước về chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương, trong đó chuyển đổi số đóng vai trò hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động của doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Khi các rào cản về thể chế, vốn và định hướng phát triển được tháo gỡ một cách đồng bộ, Nghị quyết số 57-NQ/TƯ không chỉ tạo cú hích cho khoa học và công nghệ trong nước, mà còn mở đường để doanh nghiệp công nghệ Việt Nam từng bước khẳng định vị thế trong khu vực, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.
Nhiên Nhiên