Thánh Gióng cưỡi ngựa. Ảnh: Tư liệu
Đẹp nhất là con ngựa sắt mà Thánh Gióng cưỡi đi đánh giặc Ân, rồi lại cưỡi ngựa “bay về trời”, để lại nỗi ngẩn ngơ của người đời, rồi được chính người Kinh Bắc vẽ lại theo trí tưởng tượng và đọng lại trong bức tranh dân gian Đông Hồ. Cái đẹp của tranh ở chỗ dùng các gam màu sặc sỡ, toàn là những màu “gốc” lấy từ các sản phẩm tự nhiên quanh vùng: Đất son đỏ lấy từ vùng đồi thấp trong vùng, màu vàng từ hạt dành dành, màu đen từ than đốt từ lá tre, màu xanh từ gỉ đồng, cái nền tranh quét điệp lấp lánh lấy từ bột vỏ điệp từ biển... Cái gam màu sặc sỡ này là điểm nhấn như tín hiệu báo mùa xuân đã đến, nổi bật trên cái toàn cảnh của các màu chìm như màu nâu của mái rạ, tường đất, phên giậu, con đường làng hay màu xanh của các rặng tre đầu làng, màu nâu đỏ của mái đình, mái chùa...
Có lẽ chính đấy là cái “chất” của tranh Đông Hồ mà cách đây hơn một thế kỷ, họa sĩ H. Oger đã cảm nhận cái hồn cốt của tranh dân gian Việt Nam đọng lại ở cách sử dụng màu thiên về gam sặc sỡ. Bố cục của tranh khá chặt chẽ, lấy cách tạo đường viền đậm, hợp với công nghệ in ấn bằng bản dập gỗ mít. Đề tài của tranh nêu bật được cái tính sinh động của dáng người khỏe khoắn, tay giơ cao nâng bụi tre đằng ngà. Đặc biệt, dáng ngựa như đang phi, chân sau của ngựa duỗi thẳng mà không chạm đất, cổ ngựa vươn cao. Có lẽ đây là cái dáng ngựa đẹp, oai hùng mà nghệ sĩ dân gian Đông Hồ thể hiện.
Tượng ngựa sớm nhất trong kho tàng di sản nghệ thuật Việt Nam cũng nằm ở Kinh Bắc, trong thềm sân chùa Phật Tích. Đó là pho tượng ngựa bằng đá ở chùa Phật Tích (được dựng năm 1057), nay vẫn còn đặt ở sân trước cửa chùa. Tượng ngựa được tả thực với mắt nổi, mõm dài, miệng và hai lỗ mũi, có bờm, đuôi dài. Ngựa đang trong tư thế nằm, chân trước khuỵu xuống. Tượng được đặt trên bệ đá có hoa văn cánh sen. Xem ra hình ảnh con ngựa có duyên với ngôi chùa thời Lý này có thể là sản phẩm giao lưu văn hóa giữa hai nhà nước Đại Việt và Chăm Pa khi đó. Sư tử, voi, tê giác, trâu, ngựa là những linh vật đương thời. Chất liệu chế tác các động vật này là đá sa thạch (đá cát) nguyên khối. Đây là loại đá dùng làm tượng phổ biến trong nền văn hóa Chăm. Những tư liệu về khối tượng này đã giúp chúng tôi giải mã được một số vấn đề lịch sử, quan hệ văn hóa thời cổ đại giữa Việt và Chăm.
Tượng quan hầu giữ ngựa, đá, lăng Dinh Hương. Ảnh: Trịnh Sinh
Cuộc chiến với Chiêm Thành của vua Lý Thái Tông năm 1044 đã diễn ra trong thời gian ngắn. Sau chiến thắng, vua ra lệnh: "Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha" và sai người đi khắp các hương ấp phủ dụ dân Chăm. Khi trở về phía Bắc, vua mang theo hơn 5.000 người Chăm, trong đó có một số thợ thủ công, các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên (điệu múa, hát ảnh hưởng âm nhạc Ấn Độ). Người Chăm được nhận người cùng bộ tộc, định cư từ trấn Vĩnh Khang (Tương Dương, Nghệ An) đến Đăng Châu (Yên Bái, Lào Cai), đặt hương ấp phỏng tên gọi cũ của Chiêm Thành. Một số cung nữ được cho dệt lụa ở vùng ven Hồ Tây, Hà Nội, nay vẫn còn bia chùa và thư tịch ghi lại. Bắc Ninh khi đó cũng có người Chăm định cư và họ đã tạo ra những tác phẩm nghệ thuật bằng chất liệu ưa thích.
Có thể, chính nhóm thợ người Chăm đã tạo ra một số tác phẩm để đời giao thoa văn hóa Việt - Chăm từ thời đó, mà quanh vùng Kinh Bắc còn có các di tích, di vật như 10 linh vật chùa Phật Tích, bệ đá khắc hình rồng Lý nơi đặt tượng Phật A Di Đà của chùa, cột đá chạm đôi rồng Lý ở chùa Dạm... Hóa ra, những tượng ngựa đã được người Chăm tạc trên chất liệu sa thạch từ trước khi có sự xuất hiện của tượng ngựa sa thạch ở chùa Phật Tích. Chúng tôi trở lại vùng văn hóa Chăm để hy vọng có thể giải mã đôi điều về hình tượng ngựa ở đây.
Ngựa không phải là động vật có mặt từ thời cổ đại trong văn hóa Chăm Pa. Có thể ngựa có mặt do sự giao lưu văn hóa với vùng Nam Trung Quốc và một số nền văn hóa Ba Tư thông qua con đường tơ lụa. Một số học giả cho rằng, ngựa có mặt trong nền văn hóa Chăm Pa muộn, phải tới khi tiếp xúc với đội quân Nguyên Mông vào thế kỷ XIII thì mới có mặt ngựa ở vùng đất Chăm Pa. Trong văn hóa Chăm Pa, các loài động vật như voi, bò, khỉ, sư tử xuất hiện từ sớm và phổ biến hơn. Tuy nhiên, với những tư liệu về ngựa thể hiện trong đài thờ Đồng Dương, Khương Mỹ, có thể định niên đại cho sự xuất hiện của ngựa từ khoảng thế kỷ VII, VIII. Mặc dù nghệ sĩ Chăm tạc tượng ngựa còn ít, nhưng tay nghề cũng không kém gì khi tạc các linh vật khác.
Cho đến khi những người thợ Chăm được đưa ra phương Bắc, họ cũng đã đóng góp vào nền nghệ thuật Việt trong nhiều công trình mang phong cách tạo tượng trên nền đá sa thạch ở một số chùa thời Lý với hình tượng con vật như kinari đầu người mình chim, đóng góp cho việc xây dựng Hoàng thành với chứng cứ là các hàng chữ Chăm trên gạch kiến trúc, xây dựng chùa tháp Báo Thiên (sách An Nam chí lược nói rõ việc thợ công trình này là thợ Chăm).
Tượng ngựa bằng đá sa thạch, di tích Đồng Dương, thế kỷ IX-X. Ảnh: Trịnh Sinh
Những chứng cứ khoa học cho thấy từ thời Lý, nền văn hóa Đại Việt đã có sự bổ sung những mảng nghệ thuật của văn hóa Chăm Pa, thể hiện rõ ở tượng tròn, kiến trúc, thậm chí các giai điệu âm nhạc nữa. Trong kho tàng văn hóa Việt, không thể không kể đến sự đóng góp của nền văn hóa Chăm cũng như các nền văn hóa dân tộc ít người khác, tạo thành một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
Hình ảnh của con ngựa còn được coi là không thể thiếu trong văn hóa Việt ở sự thành đạt: Các quan lớn nhỏ khi vào chầu ở Thăng Long thì phải dừng ngựa trước tấm biển Hạ Mã ở đoạn Cửa Nam ngày nay, người nào đỗ Tiến sĩ thì được vua cho một chuyến “vinh quy bái tổ” bằng ngựa về làng. Ngựa còn xuất hiện trên những bức tranh hài hước chuột cưỡi ngựa về làng trong tranh Đông Hồ.
Một hình ảnh của tượng ngựa có mặt nhiều trong xứ Kinh Bắc là ngựa trong các lăng mộ quận công, có kích thước lớn hơn ngựa ngoài đời. Tượng được tạc khá trau chuốt, tỉ mỉ. Những tượng và tranh ngựa của xứ Kinh Bắc khá đẹp. Đó chính là một kho di sản văn hóa vật thể quý giá, không những cho những ai quan tâm đến truyền thống lịch sử, mỹ thuật cổ, mà còn đóng góp vào nền kinh tế du lịch, lôi cuốn du khách trong và ngoài nước.
Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Sinh