Trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT) cho rằng, năm nay tuyển sinh đại học có phần rối ren chủ yếu vì chính sách quy đổi mới nhưng lại thiếu khung chuẩn quốc gia, dẫn đến mỗi trường tự làm một cách, tạo ra nhiều chênh lệch.
Quy chế lại ban hành và chỉnh sửa khá muộn, khiến các trường lúng túng, thí sinh thì không kịp hiểu luật chơi. Khi dồn toàn bộ nguyện vọng vào hệ thống chung, khối lượng dữ liệu quá lớn, lại chưa thử tải làm tăng khả năng sai sót chưa lường hết.
Thuật toán lọc ảo phải xử lý nhiều biến số hơn hẳn các năm trước, chỉ cần một khâu nhập liệu không chính xác đã gây xáo trộn kết quả. Các năm trước ít phức tạp hơn, vì mỗi phương thức xét tuyển thường độc lập, lọc ảo chủ yếu trong phạm vi nhỏ, nên không bị “rối” như năm nay.
TS Hoàng Ngọc Vinh
“Không nên trộn tất cả phương thức vào một “nồi” bách phân vị”
Năm nay, đề thi nhiều môn được đánh giá là khó nhưng điểm chuẩn nhiều ngành không giảm thậm chí tăng lên, có 6 ngành lên tới 30/30 điểm. Trong tuyển sinh đại học, ông đánh giá thực trạng này là đáng mừng hay đáng lo?
Tôi cho rằng đây là điều đáng lo. Điểm chuẩn tăng cao chưa chắc phản ánh năng lực thí sinh tốt hơn, mà chủ yếu do quy đổi điểm thiếu chuẩn mực, chỉ tiêu một số ngành hot quá ít, cộng thêm ưu tiên khu vực và đối tượng. Khi nhiều yếu tố dồn lại, điểm chuẩn bị đẩy lên “trần” 30/30. Điều này dễ tạo ra ảo tưởng thành tích, khiến xã hội lầm tưởng chất lượng đầu vào tăng vọt. Thực tế, sự chênh lệch lại xuất phát từ kỹ thuật xét tuyển, không phải năng lực thực tế. Về lâu dài, điều này gây tâm lý bất công và làm méo mó tín hiệu phân loại.
Có ý kiến cho rằng bách phân vị trong tuyển sinh đại học chưa hoàn hảo dẫn tới không ít nghịch lý? Trong năm tới, ông ủng hộ vẫn sử dụng bách phân vị trong tuyển sinh hay không?
Bách phân vị về lý thuyết là công cụ hữu ích, nhưng chỉ có giá trị khi dữ liệu đủ lớn và đạt chuẩn thống kê: phân phối không bị méo, sai số nhỏ, đặc trưng ổn định và không thiên lệch giữa các nhóm thí sinh. Hiện nay những điều kiện này chưa được đảm bảo, nên việc áp dụng đại trà đã sinh ra nhiều nghịch lý. Tôi nghĩ cần tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm có kiểm soát thay vì “phổ cập” vội vàng. Quan trọng hơn, không nên trộn tất cả phương thức vào một “nồi” bách phân vị. Cách công bằng hơn là yêu cầu các trường chốt rõ tỷ lệ chỉ tiêu cho từng phương thức dựa trên thống kê vài năm ở từng phương thức và công khai sớm để thí sinh chủ động. Bộ sẽ giám sát việc này và các trường tự chủ hơn theo Luật GDĐH và chịu trách nhiệm giải trình trước xã hội.
Có nên bỏ chính sách quy đổi điểm tiếng Anh từ các chứng chỉ như IELTS?
Điểm chuẩn năm nay cao có một yếu tố là thí sinh có chứng chỉ IELTS quy đổi sang điểm thi tốt nghiệp môn tiếng Anh? Ông có ủng hộ phương án này của các trường?
Cá nhân tôi không ủng hộ. IELTS chỉ phản ánh năng lực ngoại ngữ, không thể đại diện cho tư duy hay năng lực học thuật tổng thể. Khi quy đổi IELTS thành điểm thi tốt nghiệp, vô tình tạo ra sự mất công bằng: những em không có điều kiện học IELTS bị thiệt thòi, trong khi thí sinh có IELTS lại được “đòn bẩy” vượt qua ngưỡng điểm chuẩn. Hệ quả là dư điểm chuẩn vẫn có em rớt, trong khi năng lực chưa chắc đã thấp hơn những em đạt điểm cao do quy đổi.
Cách hợp lý hơn là sử dụng IELTS để miễn hoặc giảm khối lượng học phần tiếng Anh ở đại học, thay vì biến nó thành công cụ so sánh trực tiếp giữa các thí sinh trong tuyển sinh. Cũng nên bỏ hẳn chính sách quy đổi điểm tiếng Anh từ các chứng chỉ như IELTS sang điểm thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT. Hoàn toàn không có cơ sở khoa học thực nghiệm để có khung chuẩn tương đương và nội hàm đánh giá theo IELTS vốn khác bản chất với cấu trúc nội dung đề thi tiếng Anh tốt nghiệp.
Tôi cho rằng trừ những ngành học đòi hỏi tiếng Anh IELTS thì từng trường đại học coi đó là tiêu chí hạn chế, tương tự như yêu cầu Toán hay tiếng Anh thi tốt nghiệp vượt qua ngưỡng nào đó, còn đa số thì nên bỏ hẳn.
Trong tuyển sinh năm tới, theo ông Bộ GD&ĐT cần thay đổi những gì để có kỳ thi đảm bảo công bằng cho thí sinh?
Trước hết, cần quán triệt tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị: tuyển sinh đại học phải bảo đảm “...đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm kiểm soát thống nhất chuẩn đầu vào của các ngành đào tạo”. Muốn vậy, Bộ nên ổn định quy chế ít nhất 5 năm để tránh tình trạng đổi luật liên tục. Hạn chế tối đa các tổ hợp xét tuyển lạ mà không có minh chứng gắn với chuẩn đầu vào ngành đào tạo. Đồng thời, phải chuẩn hóa đề thi và xây dựng khung quy đổi quốc gia dựa trên nghiên cứu thực chứng, không để mỗi trường tự làm theo cách riêng.
Chỉ tiêu cho từng phương thức nên được xác định rõ ràng, dựa trên thống kê vài năm gần đây và công bố sớm. Thuật toán lọc ảo và quy trình xét tuyển cần minh bạch hơn, có công bố sai số để xã hội giám sát. Đặc biệt, tôi nghĩ Bộ cần lắng nghe nhiều hơn ý kiến chuyên gia trước khi ban hành chính sách, và cùng các trường đối thoại, tiếp thu để hoàn thiện. Mỗi năm chỉ có một lần cả xã hội trông ngóng, nếu công tác thi và xét tuyển ĐH tốt hơn xã hội có thêm niềm tin vào công tác tuyển sinh và ngành giáo dục nói chung.
Cảm ơn ông!
Đỗ Hợp