Đội ngũ thực hiện nhiệm vụ đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng chăn nuôi và xử lý môi trường (mùi và chất thải rắn) trong chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong đó, trang trại của Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp sạch Tây Sơn (thôn Bình An, xã Vĩnh Linh) đáp ứng yêu cầu để ứng dụng các loại chế phẩm vi sinh phát triển trang trại theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu là những phế phẩm từ các chợ, như: Đầu cá, ruột cá, trái cây hỏng, bã đậu, bã bia được xay nhuyễn, ủ với chế phẩm vi sinh để làm thức ăn cho vật nuôi. Đây là trang trại chăn nuôi tổng hợp, có nguồn thức ăn thô xanh là vườn trồng cỏ voi quy mô 1.000m2 phục vụ chăn nuôi bò...
Ông Nguyễn Đăng Vương, Giám đốc HTX Nông nghiệp sạch Tây Sơn cho biết, trước đây, rác thải chăn nuôi là nỗi lo lớn nhất của trang trại vì gây ô nhiễm và phát sinh dịch bệnh. HTX luôn trăn trở để sử dụng phế phẩm làm thức ăn, vừa giảm chi phí, vừa không gây ô nhiễm môi trường. Với sự hỗ trợ từ Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số, HTX đã ứng dụng công nghệ sinh học vào quá trình chăn nuôi.
Theo đó, trang trại sử dụng chế phẩm Tricho-Pseu để xử lý chất thải rắn chăn nuôi thành phân bón hữu cơ, phục vụ trồng trọt. Đồng thời, chế phẩm Compo-QTMIC được ứng dụng để xử lý phân tươi làm nguyên liệu nuôi ruồi lính đen, tạo ra nguồn ấu trùng giàu đạm phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm tại trang trại.
Sản phẩm thịt heo sạch của Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Tây Sơn được thị trường ưa chuộng - Ảnh: NVCC
Ngoài ra, chế phẩm Pro-QTMIC được sử dụng để ủ chua cỏ voi theo phương pháp yếm khí, giúp hạ độ pH và bảo quản thức ăn lâu dài cho đàn bò. Môi trường chuồng trại luôn được giữ sạch sẽ, không mùi hôi nhờ việc phun định kỳ chế phẩm Bio-QTMIC, giúp ngăn chặn dịch bệnh và cải thiện chất lượng không khí.
Vòng tròn khép kín từ khâu chế biến thức ăn, chăn nuôi đến xử lý chất thải đã tạo ra sản phẩm thịt sạch và phân bón hữu cơ chất lượng, không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn khẳng định vai trò của công nghệ sinh học trong việc nâng cao giá trị nông sản và bảo vệ hệ sinh thái địa phương.
“Chi phí thức ăn giảm mạnh nhờ tận dụng phế phẩm và nguồn đạm từ ấu trùng ruồi. Chúng tôi sản xuất được lượng lớn phân hữu cơ phục vụ trồng trọt. Sản phẩm lợn sạch của HTX giờ đã có thương hiệu, được khách hàng ưa chuộng trên mạng xã hội và các cửa hàng nông sản sạch. Chúng tôi mong muốn thời gian tới, các trang trại chăn nuôi sẽ tiếp tục được hỗ trợ để ứng dụng công nghệ sinh học trong quá trình sản xuất”, ông Nguyễn Đăng Vương cho biết thêm.
Việc ứng dụng đồng bộ các chế phẩm vi sinh (Tricho-Pseu, Pro-QTMIC, Compo-QTMIC và Bio-QTMIC) đã mang lại hiệu quả rõ rệt trong xử lý chất thải chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất phân bón hữu cơ, bổ sung nguồn thức ăn thô xanh và nguồn thức ăn giàu đạm từ ruồi lính đen. Các mô hình được xây dựng đều đạt 100% khối lượng và quy mô theo kế hoạch, cho thấy tính khả thi, hiệu quả kỹ thuật và khả năng nhân rộng trong thực tiễn.
Nhờ vậy, nhiệm vụ không chỉ góp phần tiết kiệm chi phí nguyên liệu, tận dụng được nguồn phế phụ phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế cho trang trại mà còn thúc đẩy chuyển đổi phương thức chăn nuôi theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp xanh của tỉnh. Đồng thời, nhiệm vụ đã khẳng định vai trò của công nghệ sinh học trong việc giải quyết các vấn đề môi trường chăn nuôi và nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp.
Đại diện Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Chuyển đổi số cho biết, nhóm thực hiện nhiệm vụ kiến nghị tiếp tục hỗ trợ và nhân rộng mô hình chăn nuôi ứng dụng công nghệ sinh học theo hướng kinh tế tuần hoàn tại các địa phương có điều kiện phù hợp trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, cần bố trí nguồn kinh phí và cơ chế khuyến khích để các trang trại, HTX tiếp cận và ứng dụng các chế phẩm vi sinh trong xử lý môi trường và tái sử dụng chất thải chăn nuôi. Đồng thời, tăng cường tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn quy trình vận hành mô hình nhằm nâng cao hiệu quả, bảo đảm tính bền vững và khả năng áp dụng lâu dài trong thực tiễn sản xuất.
M.N