Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn, phục hồi nguồn gen, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ (KH&CN) để nhân giống, phát triển loài cây này theo hướng bền vững, gắn với phát triển kinh tế địa phương. Từ yêu cầu đó, Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia chủ trì triển khai nhiệm vụ KH&CN “Ứng dụng công nghệ cao xây dựng mô hình trồng dược liệu lan Kim tuyến bản địa và một số loại lan khác tại tỉnh Cao Bằng”. Đến nay, 4/5 nội dung nghiên cứu của nhiệm vụ đã hoàn thành, đạt nhiều kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho ứng dụng và chuyển giao vào thực tiễn.
Qua quá trình khảo sát, thu thập và định danh hai loài lan Kim tuyến bản địa tại tỉnh Cao Bằng là Lan kim tuyến tơ (Anoectochilus setaceus) và lan Kim tuyến đá vôi (Anoectochilus calcareus). Kết quả này là tiền đề quan trọng để chuẩn hóa nguồn gen, tiến tới xây dựng tiêu chuẩn cây giống lan Kim tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô in vitro. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bộ tiêu chuẩn cơ sở cho cây giống lan Kim tuyến bằng phương pháp in vitro bao gồm các tiêu chuẩn về cây giống gốc và cây con giúp kiểm soát chặt chẽ xuất xứ, chất lượng cây giống và tối ưu hóa tỷ lệ sống khi đưa ra môi trường sản xuất.
Nhiệm vụ đã tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trong môi trường nhà màng. Từ đó, xây dựng thành công hệ thống cơ sở dữ liệu cho quy trình trồng lan Kim tuyến bản địa và lan Hồ điệp thương phẩm.
Đối với lan Kim tuyến, quy trình trồng được hoàn thiện dựa trên hệ thống dữ liệu về điều kiện môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, cường độ ánh sáng); giá thể (độ ẩm, chỉ số pH) và chế độ dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển của cây. Quy trình này không chỉ giúp cây sinh trưởng ổn định trong môi trường có kiểm soát, mà còn tạo nền tảng vững chắc để xây dựng mô hình canh tác lan Kim tuyến ứng dụng công nghệ cao.
Mô hình thực nghiệm tại hệ thống nhà màng, nhà lưới, các quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc lan Kim tuyến đã được đơn vị chủ trì chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ viên chức của Trung tâm.
Không chỉ dừng lại ở cây dược liệu, nhiệm vụ còn triển khai nghiên cứu đối với lan Hồ điệp - một loài lan có giá trị kinh tế cao trên thị trường. Đến nay, đã hoàn thiện được hệ thống cơ sở dữ liệu và quy trình trồng lan Hồ điệp thương phẩm tại Cao Bằng. Quy trình bao gồm các thông số môi trường, giá thể và chế độ dinh dưỡng theo từng giai đoạn sinh trưởng và ra hoa, góp phần nâng cao chất lượng hoa và hiệu quả sản xuất.
Một điểm mới của nhiệm vụ là việc ứng dụng công nghệ cao (công nghệ cảm biến, kết nối vạn vật) trong quản lý sản xuất. Thông qua qua các thiết bị cảm biến và công nghệ kết nối vạn vật, nhóm thực hiện đã thiết kế và đưa vào sử dụng "sổ tay điện tử". Công cụ này giúp theo dõi, lưu trữ toàn bộ dữ liệu liên quan đến quá trình trồng, chăm sóc và sinh trưởng của cây lan. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ góp phần chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra hướng tiếp cận nông nghiệp thông minh trong thời gian tới.
Các chuyên gia của dự án trực tiếp hướng dẫn, chuyển giao kỹ thuật cho đội ngũ viên chức của Trung tâm, từ khâu chuẩn bị giá thể, điều chỉnh điều kiện môi trường đến chế độ dinh dưỡng và theo dõi, chăm sóc cây sinh trưởng phát triển. Việc được tiếp cận và từng bước làm chủ quy trình kỹ thuật đã mang lại những chuyển biến rõ nét trong công tác nghiên cứu, sản xuất tại đơn vị.
Từ việc nghiên cứu và ứng dụng đồng bộ các giải pháp KH&CN, nhiệm vụ đã đạt được nhiều kết quả, cụ thể 1 bộ tiêu chuẩn cơ sở cây giống lan Kim tuyến bản địa; hoàn thiện 2 quy trình: trồng lan Kim tuyến bản địa và quy trình trồng lan Hồ điệp thương phẩm trong nhà màng thông minh. Đến nay, đã sản xuất được 17.000 cây giống lan Kim tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô in vitro, sau khi đưa ra vườn ươm cây sinh trưởng khỏe mạnh. Đối với lan Hồ điệp, đã có 2.800 cây giai đoạn ra vườn ươm và 2.200 cây trưởng thành được xử lý phân hóa ngồng hoa và ra hoa đúng thời điểm, hoa sinh trưởng và phát triển tốt.
Trên cơ sở những kết quả đạt được, đơn vị thực hiện nhiệm vụ đã và đang thực hiện nội dung: Xây dựng mô hình trồng lan Kim tuyến và lan Hồ điệp ứng dụng các công nghệ cảm biến, công nghệ số công nghệ kết nối vạn vật quy mô từ 200 - 250 m2 tại khu nông lâm nghiệp công nghệ cao của tỉnh. Việc ứng dụng các công nghệ này sẽ giúp kiểm soát chính xác các yếu tố môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo tiền đề để nhân rộng mô hình trong thực tiễn.
Phan Huế