Ưu tiên nghiên cứu cơ bản là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực tự chủ của Quốc gia

Ưu tiên nghiên cứu cơ bản là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực tự chủ của Quốc gia
2 giờ trướcBài gốc
PV: Thưa Giáo , với tư cách là người đứng đầu cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu đất nước, Giáo sư cảm nhận thế nào bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đặc biệt là thông điệp ưu tiên cho "nghiên cứu khoa học cơ bản"?
GS.TS Trần Hồng Thái: Trong phát biểu đó, tôi và các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học đặc biệt tâm đắc là tinh thần nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản. Đây là định hướng có ý nghĩa rất sâu sắc, xác định khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động nghiên cứu nhằm mở rộng tri thức của con người, mà còn là nền tảng tạo nên năng lực cạnh tranh, năng lực tự chủ và sức mạnh quốc gia trong dài hạn. Trong nhận thức thông thường, nghiên cứu cơ bản đôi khi bị nhìn nhận như một hoạt động thuần túy học thuật, xa thực tiễn, chủ yếu gắn với công bố quốc tế, chỉ số trích dẫn hay xếp hạng khoa học. Nhưng thực chất, nghiên cứu cơ bản chính là tầng sâu nhất của năng lực khoa học quốc gia, là nơi hình thành tri thức gốc, phương pháp tư duy, đội ngũ chuyên gia tinh hoa và khả năng đi đến bản chất của các vấn đề công nghệ.
Thực tiễn phát triển khoa học công nghệ thế giới đã chứng minh rằng, hầu hết các cuộc cách mạng công nghệ lớn đều bắt nguồn từ những thành tựu của nghiên cứu cơ bản. Nếu nghiên cứu ứng dụng tạo ra sản phẩm cho hôm nay, thì nghiên cứu cơ bản tạo ra năng lực để đất nước làm chủ tương lai. Một quốc gia có thể mua thiết bị, nhập khẩu dây chuyền, tiếp nhận một số công nghệ trong ngắn hạn; nhưng không thể mua được năng lực khoa học nền tảng, không thể nhập khẩu được đội ngũ nhà khoa học đủ sức giải mã, cải tiến và sáng tạo công nghệ lõi. Chính nghiên cứu cơ bản là nền móng để hình thành năng lực công nghệ nguồn, công nghệ chiến lược, giải mã và khả năng tự chủ công nghệ trong dài hạn, ví dụ: Trí tuệ nhân tạo bắt nguồn từ toán học, khoa học dữ liệu, xác suất, tối ưu và khoa học máy tính; công nghệ bán dẫn, lượng tử, vật liệu mới bắt nguồn từ vật lý hiện đại, hóa học, khoa học vật liệu…
Chúng ta có thể tiếp nhận, chuyển giao một số công nghệ trong thời gian ngắn, nhưng để làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nguồn và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu thì phải xây dựng được năng lực khoa học của chính mình. Vì vậy, ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản không phải là lựa chọn xa xỉ, càng không phải là sự đầu tư chậm sinh lợi. Đó là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực tự chủ của quốc gia. Đó là cách một đất nước chuẩn bị cho những ngành công nghiệp mới, những công nghệ chưa hình thành đầy đủ hôm nay nhưng sẽ quyết định vị thế cạnh tranh trong 10 năm, 20 năm, thậm chí 50 năm tới.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, khi Nghị quyết 57 được ban hành, chúng tôi đã xác định phải phát triển nghiên cứu cơ bản theo chiều sâu, gắn với các công nghệ chiến lược như lượng tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, công nghệ vũ trụ, sinh học, năng lượng mới và biển sâu; hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, các trung tâm xuất sắc; đào tạo thế hệ nhà khoa học trẻ có khả năng giải mã, làm chủ và sáng tạo công nghệ.
GS.TS Trần Hồng Thái - Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST).
PV: Tổng Bí thư có nêu rõ: "Khoa học cơ bản là nền tảng, khoa học ứng dụng là công cụ, chuyển đổi số là phương thức thúc đẩy". Giáo sư có thể phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn mối quan hệ này dưới góc nhìn của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam? VAST sẽ định vị lại vai trò của các nghiên cứu cơ bản mũi nhọn như thế nào để làm bệ phóng cho kinh tế - xã hội?
GS.TS Trần Hồng Thái: Theo tôi, đây là một cách khái quát rất đầy đủ và thời đại về chuỗi phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học cơ bản là nền tảng, là nơi tạo ra tri thức gốc, phương pháp tư duy, năng lực phát hiện quy luật và đội ngũ chuyên gia có khả năng đi đến bản chất của các vấn đề khoa học - công nghệ. Không có nền tảng khoa học cơ bản vững chắc, chúng ta khó có thể hiểu sâu, giải mã và làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Khoa học ứng dụng là công cụ để chuyển hóa những tri thức đó thành công nghệ, giải pháp và sản phẩm cụ thể. Chúng ta có thể hiểu, khoa học cơ bản tạo ra năng lực hiểu biết của con người về thế giới, thì khoa học ứng dụng tạo ra năng lực để chúng ta hành động và phát triển. Trong khi đó, chuyển đổi số là phương thức hoạt động để thúc đẩy hành động và phát triển đó bằng cách sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, tính toán hiệu năng cao và chuyển đổi số đang trở thành phương thức mới giúp rút ngắn quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và đưa kết quả khoa học vào thực tiễn.
Do đó, ba yếu tố này không thể tách rời mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Nếu thiếu khoa học cơ bản, chúng ta khó có thể tạo ra công nghệ lõi. Nếu thiếu khoa học ứng dụng, tri thức khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội. Và nếu thiếu chuyển đổi số, tốc độ đổi mới sáng tạo sẽ không đáp ứng được yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Quan điểm xuyên suốt của Viện Hàn lâm là nghiên cứu cơ bản phải tiếp tục được đầu tư theo chiều sâu, nhưng đồng thời phải gắn với các bài toán lớn của quốc gia. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn mới phải được định vị lại theo một tầm nhìn rộng hơn. Nghiên cứu cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật, không chỉ là công bố quốc tế, mà phải được xem là nền móng, là gốc rễ của năng lực công nghệ quốc gia. Trong thời gian tới, Viện Hàn lâm tập trung phát triển các hướng nghiên cứu cơ bản mũi nhọn, có khả năng tạo nền tảng cho công nghệ tương lai.
Trong đó, chúng tôi đang định vị lại các nghiên cứu cơ bản mũi nhọn theo hướng gắn trực tiếp với 9 hướng phát triển công nghệ chiến lược, gồm: công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến; hóa học xanh; vật liệu tiên tiến đa chức năng; lượng tử; công nghệ vũ trụ, UAV và xử lý dữ liệu quan sát Trái đất; khoa học công nghệ biển; công nghệ môi trường, năng lượng mới và lưu trữ năng lượng; IoT và trí tuệ nhân tạo; phòng chống thiên tai và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Đây là các hướng vừa dựa trên nền tảng nghiên cứu cơ bản sâu, vừa gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và năng lực tự chủ công nghệ của đất nước.
PV: Một trong những trăn trở lớn của ngành khoa học từ trước đến nay là cơ chế tài chính, thủ tục hành chính đôi khi còn "bó buộc" sự sáng tạo. Bài phát biểu của Tổng Bí thư đã mở ra những tín hiệu gì về mặt chủ trương để cởi trói cơ chế, tháo gỡ nút thắt về đầu tư và sử dụng quỹ cho nghiên cứu cơ bản, thưa Giáo sư?
GS.TS Trần Hồng Thái: Đây là vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của khoa học công nghệ Việt Nam. Tôi cho rằng điểm mới trong tư duy chỉ đạo xuyên suốt hiện nay là chúng ta cần nhìn nhận đầu tư cho khoa học, đặc biệt là khoa học cơ bản, không phải là khoản chi phí thông thường mà là đầu tư phát triển, đầu tư cho năng lực cạnh tranh của quốc gia trong tương lai. Nghiên cứu khoa học có những đặc thù rất khác biệt với hoạt động thông thường. Đây là quá trình khám phá, giải quyết những vấn đề chưa có lời giải, vì vậy không thể quản lý hoàn toàn giống các hoạt động hành chính hay những hoạt động đã có khuôn mẫu sẵn
Để tạo ra đột phá, cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học theo hướng trao quyền chủ động nhiều hơn cho các tổ chức nghiên cứu và nhà khoa học; chuyển từ quản lý quá trình sang quản lý theo mục tiêu, chất lượng và kết quả đầu ra. Đặc biệt, cần giảm tối đa những thủ tục hành chính không cần thiết để các nhà khoa học có thể tập trung nguồn lực quan trọng nhất của mình là thời gian và trí tuệ cho hoạt động sáng tạo.
Tất nhiên, cởi trói không có nghĩa là buông lỏng. Chúng ta cần một cơ chế đánh giá minh bạch, dựa trên chất lượng khoa học, năng lực công nghệ được hình thành, đội ngũ nhân lực được đào tạo và đóng góp thực tế đối với đất nước.
Một số sản phẩm công nghệ được trưng bày tại Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam.
PV: Nghiên cứu cơ bản thường có độ trễ lớn và rủi ro cao. Tổng Bí thư đã chỉ đạo cần có "chủ trương mạnh mẽ" cho mảng này. Theo Giáo sư, chúng ta cần một cơ chế chấp nhận rủi ro và đánh giá hiệu quả khoa học như thế nào?
GS.TS Trần Hồng Thái: Một đặc điểm rất quan trọng của khoa học cơ bản là tính khám phá, tính dài hạn và tính chưa chắc chắn. Nếu chỉ lựa chọn những vấn đề đã biết chắc kết quả, khoa học sẽ khó có những phát hiện mới và những đột phá lớn.
Theo tôi, trước hết chúng ta cần thay đổi cách nhìn về thành công và thất bại trong khoa học. Một nghiên cứu chưa tạo ra sản phẩm ứng dụng ngay không đồng nghĩa với thất bại. Giá trị của nghiên cứu cơ bản còn nằm ở tri thức mới được tạo ra, phương pháp mới được hình thành, dữ liệu khoa học được tích trữ, đội ngũ chuyên gia được đào tạo và nền tảng công nghệ được xây dựng cho tương lai. Tất nhiên, chấp nhận rủi ro không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Điều chúng ta cần là cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát như giao nhiệm vụ theo mục tiêu khoa học rõ ràng, trao quyền chủ động cho nhà khoa học và tổ chức nghiên cứu, nhưng đồng thời có đánh giá định kỳ, có hội đồng chuyên gia độc lập, có tiêu chí minh bạch và có trách nhiệm giải trình về việc sử dụng nguồn lực.
Hiện nay, chúng ta đã làm như vậy rồi, tuy nhiên với nghiên cứu cơ bản, thước đo hiệu quả cũng cần phù hợp hơn. Không nên chỉ đánh giá bằng sản phẩm thương mại trước mắt, mà phải đánh giá bằng chất lượng khoa học, công bố có uy tín, đóng góp vào tri thức mới và khả năng mở ra các hướng nghiên cứu, hướng công nghệ mới cho đất nước.
PV: Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh yếu tố con người và trọng dụng nhân tài. Viện Hàn lâm có chiến lược hay đề xuất gì để thu hút, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành và tạo cơ hội cho các nhà khoa học trẻ?
GS.TS Trần Hồng Thái: Theo tôi, không chỉ trong khoa học mà trong mọi lĩnh vực phát triển của đất nước, yếu tố quyết định sự phát triển của khoa học công nghệ luôn là con người. Không có đội ngũ nhà khoa học mạnh thì không thể có nền khoa học mạnh. Phòng thí nghiệm, dữ liệu, nguồn lực tài chính đều rất quan trọng, nhưng cuối cùng, chính con người mới là chủ thể tạo ra ý tưởng mới, phát hiện mới, công nghệ mới và trường phái khoa học mới. Một đơn vị nghiên cứu mạnh ở tất cả các cấp trước hết phải là nơi hội tụ được những nhà khoa học giỏi, đồng thời tạo được môi trường để các nhà khoa học trẻ trưởng thành.
Tại Viện Hàn lâm, chúng tôi luôn xác định trọng dụng nhân tài không chỉ là thu hút người giỏi về làm việc, mà còn là giao cho họ những trọng trách, tạo điều kiện để các nhà khoa học chủ động xây dựng nhóm nghiên cứu riêng, được chủ động học thuật, được hợp tác quốc tế và được đánh giá bằng chất lượng khoa học cũng như đóng góp thực tế cho xã hội.
Trong thời gian tới, về thu hút, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành và tạo cơ hội cho các nhà khoa học trẻ, Viện Hàn lâm sẽ tập trung vào một số hướng chính lớn như sau: Thứ nhất là xây dựng cơ chế thu hút phù hợp, trao đổi và sử dụng các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế trong những lĩnh vực chiến lược như công nghệ sinh học, y sinh tiên tiến; hóa học xanh; vật liệu tiên tiến; lượng tử; công nghệ vũ trụ, năng lượng mới và lưu trữ năng lượng; IoT và trí tuệ nhân tạo…
Thứ hai là phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và các trung tâm nghiên cứu công nghệ chiến lược, xuất sắc như lượng tử, biển sâu...Trong đó, đích đến sẽ hình thành những nhóm nghiên cứu có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, lấy nhà khoa học đầu ngành làm hạt nhân, đồng thời tạo không gian phát triển cho các nhà khoa học trẻ.
Thứ ba là tạo cơ hội thực chất cho thế hệ trẻ được tham gia các đề tài lớn, được làm việc trong phòng thí nghiệm hiện đại và mạng lưới hợp tác quốc tế. Trong đó, các nhà khoa học, nghiên cứu trẻ cần được tin tưởng giao việc, được bảo vệ khi theo đuổi những ý tưởng khó nhưng có tiềm năng, có triển vọng để chúng ta có thể xây dựng được nguồn năng lực khoa học dài hạn. Song song với điều này là đổi mới cơ chế đánh giá và đãi ngộ gắn với năng lực, kết quả và mức độ đóng góp thực chất của nhà khoa học. Chúng ta phải từng bước chuyển từ đánh giá nặng về thâm niên hoặc số lượng sang đánh giá theo chất lượng công bố, năng lực dẫn dắt nhóm nghiên cứu, khả năng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo khi đóng góp vào các nhiệm vụ chiến lược của quốc gia.
Tôi luôn tin tưởng vào trí tuệ Việt Nam, tin vào đội ngũ nhà khoa học, tin vào thế hệ trẻ. Nếu chúng ta tạo cho họ một môi trường đủ tốt để cống hiến, chúng ta không chỉ giữ được người giỏi, mà còn có thể hình thành những thế hệ nhà khoa học mới, đủ năng lực giải quyết các bài toán lớn của đất nước và từng bước đưa khoa học Việt Nam vươn lên tầm khu vực, quốc tế.
Phạm Huyền
Nguồn CAND : https://cand.vn/uu-tien-nghien-cuu-co-ban-la-khoan-dau-tu-chien-luoc-cho-nang-luc-tu-chu-cua-quoc-gia-post812635.html