Trình bày Tờ trình tại Phiên họp, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Pháp lệnh gồm 02 điều, cụ thể: Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); Điều 2. Điều khoản thi hành.
Dự thảo Pháp lệnh sửa đổi nội dung của 8/20 điều, bổ sung 01 điều (Điều 17a) và bãi bỏ Phụ lục kèm theo. Trong đó, sửa đổi Điều 1 để quy định việc hợp nhất VBQPPL của cơ quan nhà nước ở địa phương; sửa đổi Điều 4 để quy định văn bản hợp nhất (VBHN) được viện dẫn, sử dụng chính thức trong quá trình áp dụng và thi hành pháp luật.
Đồng thời, sửa đổi Điều 5, Điều 6, Điều 7 Pháp lệnh về quy định thẩm quyền hợp nhất đối với VBQPPL của chính quyền địa phương; bổ sung quy định cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung có trách nhiệm trình dự thảo VBHN cùng với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình thông qua, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung. Sửa đổi thời hạn ký xác thực VBHN đối với văn bản ở Trung ương là 15 ngày kể từ ngày VBQPPL sửa đổi, bổ sung được công bố, ban hành; bổ sung thời hạn hợp nhất văn bản của chính quyền địa phương là trước ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung 3 ngày; đối với trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực kể từ ngày thông qua, ban hành, VBHN phải được ký xác thực chậm nhất là cùng ngày với ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Bên cạnh đó, sửa đổi Điều 8 để quy định về việc đăng tải và thời hạn gửi, đăng tải VBHN trên Công báo điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; quy định VBHN được đăng tải đồng thời với VBQPPL sửa đổi, bổ sung. Sửa đổi, bổ sung Điều 10 để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong công tác hợp nhất văn bản; thể chế hóa chủ trương ứng dụng khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động hợp nhất văn bản. Sửa đổi Điều 18 để giao Chính phủ quy định về kỹ thuật trình bày VBHN.
Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng.
Dự thảo Pháp lệnh bổ sung Điều 17a sau Điều 17 quy định về việc hợp nhất văn bản trong các trường hợp khác, bao gồm: văn bản có nội dung được sửa đổi, bổ sung bởi văn bản không phải là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều; văn bản có nội dung được đính chính; văn bản có nội dung được bãi bỏ một phần hoặc hết hiệu lực một phần theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL (trừ trường hợp hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong VBQPPL).
Về thời điểm có hiệu lực thi hành, dự kiến Pháp lệnh có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.
Báo cáo thẩm tra dự án Pháp lệnh, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp (UBPLTP) của Quốc hội Phan Chí Hiếu cho biết, UBPLTP và các cơ quan của Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Hợp nhất VBQPPL với cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn như được nêu trong Tờ trình của Chính phủ.
Nội dung dự thảo Pháp lệnh bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, cơ bản thể chế hóa được chủ trương đổi mới mạnh mẽ công tác hợp nhất VBQPPL tại Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, đối với quy định về viện dẫn, sử dụng VBHN (sửa đổi, bổ sung Điều 4 của Pháp lệnh hiện hành), dự thảo Pháp lệnh mới nhấn mạnh VBHN được viện dẫn, sử dụng chính thức trong “áp dụng và thi hành hành pháp luật”, mà chưa thể hiện đầy đủ yêu cầu của Kết luận số 09-KL/TW về việc VBHN là căn cứ chính thức trong cả “viện dẫn” và “áp dụng pháp luật”. Do đó, đề nghị chỉnh lý quy định này để thể hiện đầy đủ tinh thần của Kết luận số 09-KL/TW.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu.
Về thời điểm trình VBHN, đa số ý kiến trong UBPLTP và các cơ quan tán thành quy định về việc trình dự thảo VBHN cùng với dự thảo văn bản sửa đổi, bổ sung khi trình thông qua hoặc trình ký ban hành. Tuy vậy, UBPLTP thấy rằng, việc trình đồng thời VBHN trong trường hợp 1 văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản sẽ phát sinh nhiều VBHN phải trình kèm theo, trong khi thời gian tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo văn bản trình Quốc hội thông qua có thể rất ngắn sẽ khó khăn trong việc thực hiện. Do đó, đề nghị UBTVQH lưu ý Chính phủ và các cơ quan quan tâm, có giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả quy định này.
Về thời hạn hợp nhất, một số ý kiến đề nghị quy định rõ mốc thời gian “công bố” là thời điểm ký ban hành văn bản công bố để thuận lợi cho việc xác định thời hạn phải hoàn thành việc hợp nhất và ký xác thực VBHN. Một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định rõ nguyên tắc việc hợp nhất và ký xác thực VBHN phải hoàn thành trước hoặc chậm nhất là ngày văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành.
Về hợp nhất văn bản trong các trường hợp khác, UBPLTP và các cơ quan của Quốc hội tán thành bổ sung Điều 17a để bao quát các trường hợp phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm VBHN phản ánh đầy đủ, toàn diện các quy định đã được thay đổi về hiệu lực, nội dung. Tuy nhiên, nếu chỉ quy định việc hợp nhất văn bản “được thực hiện theo quy định tại Pháp lệnh này” như dự thảo Pháp lệnh có thể phát sinh vướng mắc do không biết sẽ phải thực hiện hợp nhất như thế nào, bởi vì việc hợp nhất đối với các trường hợp này đa phần là phức tạp hơn và có sự khác biệt về kỹ thuật hợp nhất so với các trường hợp thông thường được quy định trong Pháp lệnh. Vì vậy, đề nghị cân nhắc việc bổ sung quy định giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm triển khai thực hiện được trên thực tế.
Báo cáo giải trình một số vấn đề được UBTVQH nêu, Bộ trưởng Hoàng Thanh Tùng nghiêm túc tiếp thu, nghiên cứu kỹ để tiếp thu đầy đủ các ý kiến và sẽ tiếp tục hoàn thiện dự thảo Pháp lệnh.
Theo Bộ trưởng, khi xây dựng dự án Pháp lệnh này, cơ quan chủ trì đã xác định rõ những nội dung còn vướng mắc trong Pháp lệnh năm 2012. Đồng thời, đây cũng là để cụ thể hóa các kết luận của Trung ương về công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật; đồng thời thực hiện chỉ đạo về mở rộng phạm vi hợp nhất không chỉ đối với văn bản do cơ quan trung ương ban hành mà cả văn bản của chính quyền địa phương. Mặt khác, việc sửa đổi, bổ sung cũng nhằm khắc phục những hạn chế đã nhận thấy từ năm 2012 đến nay.
Về một số vấn đề cụ thể được UBTVQH nêu, trong đó về thời điểm trình dự thảo VBHN đồng thời với dự án luật, pháp lệnh sửa đổi, bổ sung, Bộ trưởng cho rằng, đây là nguyên tắc đã được đề ra trong pháp lệnh hiện hành nên dự thảo Pháp lệnh lần này kế thừa quy định đó. Chính phủ cũng sẽ tiếp thu ý kiến của UBTVQH và cơ quan thẩm tra để chỉ đạo các cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện nghiêm túc quy định này.
Kể cả trong trường hợp trình một dự án để hợp nhất nhiều văn bản thì cũng là trách nhiệm của các Bộ, ngành và cơ quan chủ trì soạn thảo. Chính phủ sẽ chỉ đạo để bảo đảm các Bộ phải trình đồng thời dự thảo hợp nhất cùng với hồ sơ dự án. Tới đây khi sửa Luật Ban hành VBQPPL, Chính phủ sẽ nghiên cứu quy định đưa dự thảo VBHN trở thành một tài liệu chính thức trong hồ sơ dự án luật, nghị quyết của Chính phủ trình Quốc hội nhằm bảo đảm chặt chẽ hơn.
Về thời hạn hợp nhất, Bộ trưởng báo cáo, hiện nay pháp luật đang quy định tùy theo từng hình thức văn bản. Đối với luật, pháp lệnh, nghị quyết thì thời hạn là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh, nghị quyết đó được công bố. Việc công bố này cũng tùy loại văn bản: luật do Chủ tịch nước công bố; còn nghị quyết thì Chủ tịch Quốc hội ký ban hành và Tổng Thư ký Quốc hội công bố.
Đối với văn bản của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì thời hạn là 15 ngày kể từ ngày ký ban hành vì không có thủ tục công bố tương tự.
Đối với văn bản của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Tổng kiểm toán cũng là 15 ngày kể từ ngày ký ban hành.
Đối với văn bản của chính quyền địa phương cũng tính theo nguyên tắc đó, nghĩa là chậm nhất 3 ngày trước khi văn bản có hiệu lực thì phải hoàn thành việc hợp nhất và ký xác thực.
Qua ý kiến tại Phiên họp, cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục rà soát thêm để bảo đảm thời hạn này có tính khả thi.
Đối với văn bản luật, pháp lệnh, nghị quyết, hiện nay quy định là 15 ngày. Tuy nhiên, có những trường hợp số lượng văn bản lớn, nội dung phức tạp nên việc hoàn thành trong thời hạn này cũng gặp khó khăn.
Cơ quan chủ trì sẽ tiếp thu ý kiến của Chủ tịch Quốc hội để nghiên cứu bổ sung, làm rõ hơn nguyên tắc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong thực hiện các bước kỹ thuật hợp nhất văn bản. Đồng thời sẽ quy định rõ hơn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản sửa đổi, bổ sung và cơ quan có trách nhiệm hợp nhất để bảo đảm rõ trách nhiệm trong việc trình đồng thời, bảo đảm thời hạn và xử lý khi để xảy ra sai sót.
Cũng theo Bộ trưởng, Điều 17A được bổ sung trong dự thảo Pháp lệnh lần này là để xử lý các trường hợp đặc thù, ví dụ như đính chính VBQPPL khi phát sinh sai sót. Do đây là những trường hợp riêng biệt nên dự thảo Pháp lệnh không xây dựng thành một quy trình đầy đủ mà chỉ quy định nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi phát sinh tình huống, nhằm khắc phục vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.
Ngoài ra, cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến để hoàn thiện dự thảo Pháp lệnh.
T. Uyên