Vận dụng Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới

Vận dụng Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới
4 giờ trướcBài gốc
Những lời dạy vô giá
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh có cội nguồn sâu xa từ truyền thống văn hóa, đạo đức Việt Nam. Đó là tinh thần hiếu khách, bao dung, và kế thừa truyền thống ngoại giao hòa hiếu, công tâm, luôn coi trọng việc thu phục lòng người, "đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại".
Bên cạnh đó, Người đã tiếp thu và chắt lọc tinh hoa văn hóa thế giới một cách uyên bác như tinh thần hướng thiện và khoan dung của Phật giáo; tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái của Cách mạng Pháp; quan điểm về sự bình đẳng giữa các dân tộc của Chủ nghĩa Marx - Lenin. Tư tưởng Ngoại giao Hồ Chí Minh còn được hun đúc và tôi luyện từ chính trải nghiệm cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ba mươi năm bôn ba (1911–1941), Người đã tự học 29 ngoại ngữ và đặt chân tới 56 quốc gia, tiếp xúc với vô số dân tộc đã trang bị cho Người một tầm nhìn toàn cầu và khả năng thấu hiểu sâu sắc các nền văn minh trên thế giới. Sức mạnh thực tiễn của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh được thể hiện rõ nét qua các mốc son lịch sử.
Giai đoạn 1945–1946, trong bối cảnh "ngàn cân treo sợi tóc", khi chính quyền non trẻ phải đối phó với thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đích thân tiến hành các hoạt động đối ngoại (như ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946), một cách linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết để lèo lái đất nước vượt qua hiểm nghèo, giữ vững nền độc lập.
Những năm 1950, Người đích thân đi vận động các nước Xã hội chủ nghĩa thiết lập quan hệ ngoại giao, phá vỡ sự cô lập, nâng cao vị thế quốc tế, tranh thủ được sự ủng hộ cả về vật chất và tinh thần của nhân dân thế giới, góp phần làm nên chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tạo tiền đề cho thắng lợi Điện Biên Phủ và ký kết Hiệp định Genève 1954.
Trong kháng chiến chống Mỹ, trong điều kiện Chiến tranh Lạnh đầy phức tạp và mâu thuẫn Xô – Trung gay gắt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo một đường lối ngoại giao khéo léo, duy trì sự ủng hộ của cả hai cường quốc, đảm bảo nguồn lực to lớn để chiến thắng trên chiến trường, đưa đến Hiệp định Paris 1973 và cuối cùng là thắng lợi Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975.
Từ những lời dạy cô đọng cho đến những hoạt động đối ngoại trực tiếp đầy bản lĩnh, Người đã để lại một di sản vô giá cho nền ngoại giao Việt Nam. Đây không chỉ là những bài học kinh nghiệm lịch sử, mà còn là kim chỉ nam mang tính thời đại, không chỉ soi sáng con đường đối ngoại cho các thế hệ cán bộ ngoại giao hiện tại và mai sau trong công cuộc hội nhập và phát triển đất nước.
Từ những lời dạy cô đọng cho đến những hoạt động đối ngoại trực tiếp đầy bản lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một di sản vô giá cho nền ngoại giao Việt Nam. Đây không chỉ là những bài học kinh nghiệm lịch sử, mà còn là kim chỉ nam mang tính thời đại, soi sáng con đường đối ngoại cho các thế hệ cán bộ ngoại giao hiện tại và mai sau trong công cuộc hội nhập và phát triển đất nước.
Những bài học về đường lối đối ngoại
Về mục tiêu đối ngoại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt độc lập dân tộc là ưu tiên số một, để từ đó làm tiền đề cho các vấn đề giao lưu, hợp tác với các quốc gia, dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Tinh thần xuyên suốt trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh là mọi hoạt động đối ngoại và đoàn kết quốc tế đều phải xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết, trước hết. Người xác định đó là mục tiêu tối thượng và bất di bất dịch, được đúc kết trong câu nói nổi tiếng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Đó còn là mục tiêu toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, không chấp nhận bất cứ sự chia cắt nào, như câu nói của Bác tại Hội nghị Fontainebleau năm 1946: “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đó cũng là độc lập chủ quyền về ngoại giao, một trong những chuẩn mực, tiền đề bảo đảm độc lập dân tộc thực sự.
Người chỉ rõ, nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp thì Việt Nam chưa độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Tóm lại, bài học đối ngoại quan trọng nhất là phải xác định độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh là mục tiêu đối ngoại tối thượng của Việt Nam.
Quan hệ rộng mở, hòa bình và hợp tác hữu nghị với tất cả các nước
Những nguyên tắc chỉ đạo cho chính sách đối ngoại của đất nước cũng đã được Người vạch ra từ lâu, đến nay còn nguyên giá trị. Đó là đường lối mở rộng quan hệ với tất cả các nước, không gây thù chuốc oán với ai. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định với toàn thế giới: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ chỉ có một điều, tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”. Trong ngoại giao với các nước, Người luôn giương cao ngọn cờ hòa bình, thiện chí, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước với phương châm “thêm bạn, bớt thù”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phải coi trọng quan hệ với các nước lớn, đơn giản vì đó là những nước luôn có ảnh hưởng quyết định đến chiều hướng quan hệ quốc tế. Người cho rằng để giữ gìn độc lập dân tộc và hòa bình của nhân loại, cần phải tăng cường quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ đối ngoại, coi hòa bình là tiêu chí đầu tiên trong mọi cuộc đàm phán, giải quyết xung đột với các nước lớn.
Vị Lãnh tụ vĩ đại cũng khẳng định: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam, để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới”.
Đối với Pháp, Người bộc bạch: “Cả đời mình, tôi đã đấu tranh chống lại thực dân Pháp, nhưng tôi luôn yêu quý và khâm phục nhân dân Pháp. Đây là một dân tộc vĩ đại, thông minh và rộng lượng. Họ là những người đầu tiên đưa ra những nguyên tắc cao cả về tự do, bình đẳng và bác ái. Nhân dân Việt Nam đã và đang tiếp tục đấu tranh để thực hiện những nguyên tắc đó”. Người luôn mong muốn cộng tác với dân tộc Pháp như anh em vì hòa bình, tự do, bác ái.
Đối với Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư cho Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ bày tỏ mong muốn có quan hệ tốt giữa hai nước. Trong Thư gửi nhân dân Mỹ (1/1961), Bác nhấn mạnh: “Nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam không thù không oán. Nhân dân Việt Nam kính trọng các bạn là một dân tộc đầu tiên đã phất cờ chống chủ nghĩa thực dân (1775-1783) và chúng tôi mong muốn có quan hệ hữu nghị với các bạn”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng vai trò cường quốc của Ấn Độ. Người căn dặn cán bộ ngoại giao rằng: “Ấn Độ là một nước lớn, cần quan tâm xây dựng, phát triển quan hệ lâu dài với Ấn Độ”. Người chủ trương xây dựng chính sách cân bằng quan hệ với các nước lớn, vừa hợp tác vừa đấu tranh, nhưng cố gắng tránh đối đầu chừng nào còn có thể và chú ý giữ thể diện cho các nước lớn.
Người cũng dặn phải đặc biệt ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng trực tiếp, do tính chất phức tạp của mối quan hệ này. Do đó, ngay từ đầu, sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương phát huy truyền thống “hòa hiếu với lân bang”, nhất là với Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò, ngoại giao phải luôn thực hiện các phương châm lớn là độc lập tự chủ gắn liền với đoàn kết quốc tế. Người khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”. Nói chuyện với các nhà ngoại giao (1/1964), Người khẳng định: “Cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh”. Nhấn mạnh làm ngoại giao phải dựa vào thực lực, Người ví thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng và “chiêng có to, tiếng mới lớn”.
Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng các nước là nhiệm vụ của bản thân các quốc gia dân tộc, nhưng để tăng cường sức mạnh nội lực bảo đảm cho thắng lợi thì phải gắn cách mạng của mỗi nước vào trào lưu cách mạng thế giới, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ cao nhất sự đồng tình ủng hộ của bên ngoài, tạo sức mạnh tổng hợp cho đất nước.
Sức mạnh thời đại là những xu thế lớn tiến bộ trên thế giới, cùng sự giúp đỡ to lớn về vật chất, sự ủng hộ chính trị - tinh thần của nhân dân các dân tộc trên thế giới. Trong kháng chiến chống Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo hết sức tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Mỹ và các lực lượng tiến bộ khác và xây dựng một mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết và ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược. Đây đã từng là một nhân tố quan trọng, góp phần làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Bài học về sách lược ngoại giao
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngoại giao là một mặt trận quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Người từng nói: "Dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh". Người xác định, ngoại giao phải là một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn “vừa đánh vừa đàm”.
Người tin rằng đàm phán trong hòa bình là “vũ khí sắc bén” để hoàn thành mục tiêu độc lập, tự do; sử dụng tư tưởng hòa bình, khoan dung với kẻ thù để kết thúc chiến tranh, hạn chế tổn thất cho các bên là điều cần thiết trong ngoại giao. Thông qua thực tiễn hoạt động ngoại giao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những bài học về sách lược ngoại giao vô cũng quý báu.
Dĩ bất biến, ứng vạn biến
Phương châm ngoại giao “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” lần đầu tiên được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập vào sáng ngày 31/5/1946, trước khi lên đường đi Pháp để mở ra cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp. Cái bất biến là lợi ích, chủ quyền của quốc gia, dân tộc, lấy cái đó để ứng xử với thực tiễn sinh động sao cho phù hợp trong mọi hoàn cảnh.
Ý nghĩa cốt lõi của phương châm này là phải biết mềm dẻo, linh hoạt, thậm chí nhân nhượng thỏa hiệp, trên cơ sở giữ vững nguyên tắc lớn, lợi ích cốt lõi, căn bản bất biến. Người dạy: "Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt".
Ngoại giao công tâm
Nghệ thuật "Ngoại giao tâm công" của Người cũng là phong cách ngoại giao độc đáo, là nghệ thuật "chinh phục lòng người bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục bằng lẽ phải". Phương pháp này nhằm khơi dậy tình cảm nhân văn, đạo lý của nhân loại tiến bộ để tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, đồng thời phân biệt rõ ràng kẻ thù xâm lược với nhân dân tiến bộ của nước đó.
Nghệ thuật ngũ tri
Người dạy cán bộ ngoại giao phải vận dụng ngũ tri: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cùng với đó, Người dạy phải biết giành thắng lợi từng bước, bằng những lời thơ giản dị mà ý nghĩa trong kháng chiến chống Mỹ: “Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào”.
Người cũng dạy phải biết lấy nhu thắng cương, biết “biến đại sự thành trung sự, trung sự thành tiểu sự và tiểu sự thành vô sự”. Và đặc biệt, phải biết tranh thủ thời cơ. Câu thơ nổi tiếng của Người “Được thời một tốt cũng thành công” đem lại bài học rất giá trị về dự báo thời cơ, nắm thời cơ và tạo thời cơ, thời thế, để có thể lấy yếu thắng mạnh.
Phong cách tiếp xúc ngoại giao
Phong cách ngoại giao của Người nổi bật với sự giản dị, khiêm tốn, chân thành, tinh tế và lịch lãm, tạo nên sự gần gũi dễ gần của một nhà ngoại giao. Người luôn tôn trọng đối tác, dùng lý lẽ và tình cảm để thuyết phục. Phải nhanh trí, đối đáp có lý lẽ để buộc đối phương phải chịu, và giữ gìn quốc thể.
Những bài học xây dựng ngành Ngoại giao
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ ngoại giao vừa “hồng”, vừa “chuyên” (có đạo đức và năng lực). Người trực tiếp căn dặn và định hướng về phẩm chất, đạo đức, và năng lực cho đội ngũ cán bộ làm đối ngoại, nhấn mạnh sự cần thiết của lòng yêu nước (đặt lợi ích dân tộc lên trên hết), tiết kiệm, giữ bí mật, học ngoại ngữ và phải là người có trình độ văn hóa cao.
Phẩm chất của cán bộ ngoại giao
Người nhấn mạnh cán bộ ngoại giao phải có bản lĩnh chính trị và trách nhiệm dân tộc. Phải kiên định lập trường, có quan điểm và lập trường của Đảng (chủ nghĩa Marx - Lenin) làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Cán bộ phải kiên định lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng tự miễn dịch, tự đề kháng cao, luôn tỉnh táo, không bị tác động bởi bất kỳ âm mưu, thủ đoạn nào.
Người còn căn dặn, cán bộ ngoại giao phải thận trọng, cảnh giác và biết giữ bí mật nhà nước. Giữ bí mật là nắm chắc một phần lớn thắng lợi trong tay. Phải phân biệt rõ ta, bạn, thù và không khuất phục trước mọi thủ đoạn của địch. Phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ và phải khéo léo để lợi ích đó được đảm bảo. Mỗi cán bộ, từ cấp Đại sứ đến cấp dưỡng, đều ít nhiều có nhiệm vụ thay mặt cho dân tộc mình khi ra nước ngoài. Hành động, cử chỉ tốt sẽ khiến bạn bè quốc tế nói "dân Việt Nam mình tốt"; ngược lại, hành vi sai trái sẽ mang tiếng cho cả dân tộc.
Đạo đức của cán bộ ngoại giao
Về tư cách đạo đức, Người nhấn mạnh cán bộ ngoại giao phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân, “không được nửa trong nửa ngoài”, phải chống cái ác, làm điều thiện. Người căn dặn, đạo đức là nền tảng cốt lõi, đặc biệt quan trọng đối với cán bộ hoạt động ở nước ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định "Cần, Kiệm, Liêm, Chính" là bốn đức tính cơ bản mà nếu thiếu một đức thì "không thành người".
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cán bộ ngoại giao công tác tại các cơ quan đại diện phải đoàn kết. Tại Hội nghị cán bộ ngoại giao, ngày 14-01-1964, Bác nói: “Muốn công tác tốt, trước hết, nội bộ phải đoàn kết chặt chẽ. Muốn đoàn kết chặt chẽ, thì mọi người phải trau dồi đạo đức cách mạng, làm đúng nội quy cơ quan và những điều quy định của Đảng và Nhà nước, thực hiện dân chủ nội bộ, phê bình và tự phê bình, có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ. Người phụ trách cơ quan và người phụ trách từng bộ phận phải gương mẫu mọi mặt: Công tác, đạo đức, tiết kiệm, đoàn kết
Năng lực của cán bộ ngoại giao
Người nói cán bộ ngoại giao phải có trình độ văn hóa, tri thức ngoại giao cao và không ngừng học tập. Người dặn dò phải chú trọng đào tạo cán bộ ngoại giao, không chỉ qua trường lớp chính quy mà còn phải đào tạo ngay trong công việc, vừa làm vừa học.
Người nói cán bộ mới phải học ăn học nói, học gói học mở. Phải chăm học ngoại ngữ, xem được, nói được tiếng nước sở tại để giao tiếp tốt và hoàn thành nhiệm vụ. Phải am hiểu sâu sắc phong tục tập quán, văn hóa của nước mình được cử đến (nhập gia tùy tục). Cán bộ ngoại giao, trước hết phải là một nhà chính trị giỏi. Phải có khả năng nghiên cứu tốt để làm tham mưu và kiến nghị chính sách đúng đắn.
Nhân Hội nghị ngoại giao lần thứ ba năm 1964, Người đã đến nói chuyện và căn dặn cán bộ ngoại giao phải làm tốt công tác nghiên cứu, “có nghiên cứu tốt thì mới làm tai mắt, làm tham mưu cho nước nhà được, mới kiến nghị đúng chính sách đối với nước sở tại”, nhưng phải chú ý điều tra, nghiên cứu cho đàng hoàng, cho khéo léo. Phải có quan điểm toàn diện, "nhìn cho rộng suy cho kỹ" để thấy rõ được xu thế chung và chiều hướng của tiến bộ xã hội.
Người dặn phải nắm vững những xu hướng lớn trong bối cảnh quốc tế, khu vực và kịp thời dự báo chuẩn xác ý đồ các nước nhất là các nước lớn, ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và phát triển của Việt Nam, để chủ động định hình đường lối đối ngoại, đề xuất đối sách ứng xử ngoại giao phù hợp, góp phần quan trọng giữ vững thế chủ động chiến lược. Người nhắc nhở cán bộ ngoại giao phải luôn giữ cho “trái tim nóng, cái đầu lạnh”.
Vận dụng Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới
Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh không chỉ là di sản vô giá mà còn là kim chỉ nam giá trị vĩnh cửu cho công tác đối ngoại của Việt Nam trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đặc biệt, việc vận dụng các bài học của Người càng trở nên cấp thiết và khả thi trong bối cảnh trật tự thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ hiện nay.
Trước đây, trong điều kiện Chiến tranh Lạnh, các quốc gia chịu nhiều ràng buộc của một trong hai phe, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xác định lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu tối thượng của mọi hành động đối ngoại.
Ngày nay, khi yếu tố ý thức hệ và chế độ chính trị không còn chi phối tuyệt đối quan hệ quốc tế, nguyên tắc này lại càng phải được nâng lên thành kim chỉ nam bất di bất dịch. Mọi quyết sách đối ngoại phải luôn lấy mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thúc đẩy sự phát triển bền vững, phồn vinh của đất nước làm ưu tiên hàng đầu.
Trong quá khứ, dù phải đối diện với sự bao vây cấm vận và chịu ảnh hưởng nặng nề từ Chiến tranh Lạnh (thể hiện qua việc chia cắt đất nước sau 1954 hay những khó khăn những năm 1980), tư tưởng “làm bạn với tất cả các nước” của Người đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại.
Ngày nay, khi trật tự đa cực đang dần định hình, chủ trương “làm bạn với tất cả” không chỉ cần thiết mà còn hoàn toàn khả thi. Chủ trương này đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam phát triển lên thành đường lối chiến lược: Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ và chủ động hội nhập quốc tế toàn diện. Trong tiến trình này, các nguyên tắc Người căn dặn vẫn còn nguyên giá trị: Phải giữ vững độc lập tự chủ trong quá trình mở rộng quan hệ, đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài phục vụ sự phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế hiện nay, khi cạnh tranh nước lớn gia tăng, chính sách bảo hộ trỗi dậy và sự bất ổn địa chính trị diễn ra phức tạp, bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là chiếc chìa khóa vạn năng, để vừa bảo vệ độc lập dân tộc và lợi ích quốc gia – dân tộc, vừa linh hoạt, khéo léo, mềm dẻo trong sách lược, tận dụng mọi cơ hội và hóa giải mọi thách thức.
Cuối cùng, những di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức, năng lực, và phẩm chất của cán bộ ngoại giao lại càng có ý nghĩa sâu sắc. Trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng, đội ngũ cán bộ ngoại giao cần phải được xây dựng một cách toàn diện, hiện đại và chuyên nghiệp, không ngừng rèn luyện tinh thần tận tụy, trung thành, tinh thông ngoại ngữ, nắm vững ngũ tri để trở thành những người đại diện xuất sắc, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc.
Tựu trung, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, với những nguyên tắc đối ngoại cơ bản và nghệ thuật ứng xử ngoại giao độc đáo, là hành trang trí tuệ cho ngành Ngoại giao. Những tư tưởng của người đã trở thành di sản vô giá, trường tồn và có ý nghĩa rất thiết thực trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình. Những lời căn dặn của Người cũng vô cùng giá trị đối với sự nghiệp xây dựng ngành ngoại giao trong sạch, vững mạnh, toàn diện, chuyên nghiệp và hiện đại, nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới đang đặt ra hiện nay.
Đại sứ, TS. Tôn Sinh Thành
Nguồn TG&VN : https://baoquocte.vn/van-dung-tu-tuong-ngoai-giao-ho-chi-minh-trong-ky-nguyen-moi-392625.html