1. Nhờ cái gốc văn hiến này mà hàng nghìn năm đất nước đã vượt qua biết bao thử thách khốc liệt, vẫn tồn tại và khẳng định được vị trí của mình trong lịch sử nhân loại. Nguồn gốc văn hiến và tư tưởng nhân nghĩa trở thành nền tảng quan trọng trong văn hóa giữ nước của ông cha và thời đại Hồ Chí Minh.
Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng chỉ từ triều Lý thì Đại Việt mới thoát khỏi tình trạng quản trị đất nước của các vua hùng(bằng sức mạnh quân sự) và bắt đầu một thời kỳ trị nước bằng văn hóa. Rõ ràng tư tưởng quản trị đất nước bằng văn hóa chỉ bắt đầu sau khi Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên thành Thăng Long, khi triều Lý lập Quốc Tử Giám, dựng Văn Miếu, mở khoa thi chọn người tài cho đất nước.
Nhưng có lẽ cần nhìn về giai đoạn sớm hơn để hiểu sâu hơn bước thay đổi nhận thức có tính đột phá của cả quá trình: quyết định dời đô. Đây không chỉ là một hành vi chuyển vị trí của kinh đô mà phải nhìn thấy cái ý tưởng chọn nơi xứng đáng là “trung tâm của trời đất” để mưu việc lớn cho “muôn đời”.
Dù thời đó chưa ai nghĩ đến những khái niệm bây giờ hay dùng như địa-chính trị, địa-quân sự, địa-kinh tế hay địa-phát triển... thì trong những căn cứ để dời đô có những yếu tố này. Và, trải hàng nghìn năm lịch sử, góc nhìn ấy vẫn thể hiện tầm minh triết của một minh quân về văn hóa phát triển đất nước, và các thế hệ sau mãi mãi biết ơn những tiên hiền, tiên liệt đã có lựa chọn chính xác để đất nước có ngày hôm nay.
PGS.TS Phạm Quang Long nhìn nhận nhân tố quan trọng nhất của văn hóa là con người.
2. Từ chỗ bắt đầu coi trọng sự học, coi trọng việc đào tạo và sử dụng người tài, các triều đại trước đã đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước nhưng ông cha ta vẫn đề cao tư tưởng hòa bình, vẫn mong giữ yên đất nước bằng những phương thức khác, chỉ bất đắc dĩ mới phải dùng chiến tranh chống chiến tranh (thánh nhân bất đắc dĩ động binh, thánh nhân bất đắc dĩ dụng quyền). Đặc biệt là triều đại nào cũng đề cao sự học, coi trọng hiền tài, thu phục nhân tâm như những kế sách giữ nước sâu rễ bền gốc.
Không phải ngẫu nhiên ở Văn Miếu tư tưởng hiền tài là nguyên khí quốc gia lại được khắc vào bia đá như một lời nhắc nhở từ hoàng thân quốc thích cho đến thứ dân về vai trò to lớn của các trí thức tinh hoa đối với đất nước.
Đề cao thực học, trọng dụng hiền tài là nhân tố quan trọng để đất nước phát triển bởi uy tín của tài năng và đạo đức của các bậc hiền tài có sức mạnh và quyền uy tinh thần rất lớn. Nó có vai trò dẫn dắt xã hội mà các bậc đế vương nhiều khi cũng phải nể trọng, nghe theo. Sử sách chép chuyện về các quốc sư thời Lý, các danh sĩ thời Trần, Lê, Tây Sơn là những bằng chứng và là bài học lớn cho chúng ta.
3. Lịch sử phát triển của các dân tộc đi theo những con đường riêng nhưng tựu trung đã được vạch ra trên một lộ trình: hình thành phát triển, suy vong, chọn đường đi mới rồi lại lặp lại chu trình cũ nhưng ở giai đoạn sau này sự điều chỉnh của thể chế không rơi vào bi kịch lịch sử như những giai đoạn trước. Nhưng ở thời nào thì vai trò của văn hóa vẫn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Không cần đâu xa, cứ nhìn vào lịch sử nước ta cũng thấy điều này. Nhà Lý ở giai đoạn suy vi, đất nước cần có một lực lượng xã hội mới nắm quyền để đưa Đại Việt thoát khỏi khủng hoảng thì xuất hiện họ Trần. Triều Trần thay thế triều Lý không đơn giản chỉ là thay triều đại này bằng một triều đại khác mà là thay đổi một lực lượng mang quan niệm quản trị khác.
Triều Trần tiêu biểu cho một lực lượng xã hội mới, giàu sức sống và đáp ứng được yêu cầu của thời đại cần thay đổi. Nó vừa là nhu cầu của thời đại, vừa phù hợp với xu thế muốn thay đổi. Nếu chỉ đáp ứng được một nửa yêu cầu cũng khó có thể thành công. Bài học của cha con Hồ Quý Ly và triều Tây Sơn hậu Quang Trung đã chứng minh điều này. Tư tưởng cải cách tiên tiến, người tài cũng có nhưng không có thực lực, không có điều kiện khách quan phù hợp để thực thi những ý tưởng mới thì thất bại là tất yếu.
Những kiến nghị cải cách của các trí thức thức thời như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch không thành công bởi triều Nguyễn không thể vượt ra khỏi vòng cương tỏa của những quan niệm lỗi thời của ý thức hệ Nho giáo. Không vượt thoát được những định kiến với văn hóa Tây phương và cũng không thể hiểu được vai trò to lớn của văn hóa khai phóng, nhà Nguyễn khước từ cải cách.
Thời phong kiến, dù chưa nói ra một cách hệ thống về nhận thức của mình nhưng các triều đại phong kiến Đại Việt (trong đó có cả nhà Nguyễn) vẫn đánh giá văn hóa từ góc nhìn ý thức hệ chứ chưa thấy được ý nghĩa khai phóng từ góc nhìn bản thể của nó như các chính thể tư sản ở phương Tây.
Nhật Bản thời Minh Trị đã nhận thức khác. Nho giáo dạy người ta biết mình biết người có thể yếu, có thể mạnh; biết mình biết người, trăm trận trăm thắng nhưng hoặc chỉ hiểu điều ấy trong những trường hợp cụ thể, hoặc hiểu nhưng không thể làm theo, nên suy cho cùng, không hiểu người đến nơi đến chốn mà cũng không hiểu chính mình; nên ở thời suy vi, hầu hết các chính thể đều không tìm ra lối thoát. Bế quan tỏa cảng, không chịu đổi mới, tuy vẫn đề cao sự học nhưng đó là lối học cử tử, đã lỗi thời, thiếu tinh thần thực tiễn, ít vận dụng vào giải quyết những vấn đề của đời sống... nên thất bại.
4. Đầu thế kỷ XX tuy nhà nước thực dân nửa phong kiến có nhiều hành vi kìm hãm nhưng một phong trào vận động đổi mới, học theo các nước phát triển - thực chất là đổi mới văn hóa - đã tạo nên những biến chuyển rất sâu sắc trong xã hội Việt Nam. Một cuộc vận động chối bỏ văn hóa Nho giáo đã không còn phù hợp để tiếp nhận văn hóa phương Tây mới mẻ và đáp ứng được yêu cầu của thời đại bắt đầu (tất nhiên sự thay đổi này vẫn có cả những khiếm khuyết nhưng những điều tích cực nó đem lại vô cùng to lớn).
Đầu tiên từ văn hóa và quyết định vẫn là văn hóa đã tạo ra những tiền đề vô cùng quan trọng và căn bản để dẫn tới sự thay đổi tận gốc xã hội. Từ nhu cầu đổi mới văn hóa chuyển dần sang đổi mới kinh tế, chính trị, xã hội. Xu thế ấy tạo thành những lực lượng xã hội mà không nhà cầm quyền nào có thể ngăn cản. Các phong trào xã hội sôi nổi và cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 do Đảng cộng sản lãnh đạo nhưng được sự hưởng ứng gần như tuyệt đối của mọi tầng kớp nhân dân đã dẫn đến việc xây dựng một chính thể mới.
Cuộc vận động Văn hóa cứu quốc thực sự là một bước ngoặt trong nhận thức văn hóa thời hiện đại. Chưa bao giờ văn hóa lại có sức mạnh ghê gớm như vậy. Nó không trực tiếp tạo ra thay đổi những nó là sự chuẩn bị, là bước tạo đà, là xung lực của thay đổi. Từ đó, tư tưởng văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi trở thành nguyên tắc, động lực phát triển xã hội. Văn hóa kháng chiến, kiến quốc, xây dựng đời sống mới là đường hướng và cũng là nội dung của thời kỳ mới.
5. Những vấn đề kinh tế - xã hội những năm sau 1975 và bị bao vây cấm vận đã đẩy xã hội Việt Nam vào tình trạng tiền khủng hoảng. Câu hỏi đổi mới hay là chết đặt ra hết sức gay gắt cho cả xã hội, cho mỗi người.
Lại bắt đầu từ nhận thức lại chính mình và nhận thức hoàn cảnh. Quyết định Đổi mới là lựa chọn sinh tử của một đất nước. Đảng và Nhà nước đặt vấn đề đổi mới toàn diện nhưng trên thực tế đất nước mới chỉ đổi mới từng lĩnh vực, đầu tiên là tư duy kinh tế rồi chuyển dần sang các lĩnh vực khác. Bởi phải vừa làm, vừa học, vừa soi lại chính mình, vừa đổi mới và điều chỉnh chính mình và câu trả lời không phải đã đến một sớm một chiều. Nói cho công bằng thì dù phải chật vật từng bước, vừa đổi mới, vừa điều chỉnh... nhưng những thành tựu của đổi mới là một thắng lợi mang ý nghĩa lịch sử.
Cái dễ nhìn thấy nhất là trước khi Khoán 10 được ban hành, chúng ta là một nước nông nghiệp nhưng luôn thiếu ăn, chỉ sau 1 năm dù chưa đầu tư được gì, chỉ làm thay đổi nhận thức xã hội đất nước đã đủ lương thực tiêu dùng và còn dư để xuất khẩu. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt và đất nước hoàn toàn yên ổn về an ninh lương thực.
40 năm Đổi Mới, đất nước đã phát triển ở một tầm mức khác, vị thế mọi mặt của đất nước đã được thế giới ghi nhận. Mặc dù còn có những mặt này mặt khác chưa hài lòng nhưng nhìn lại chặng đường 40 năm qua, có thể nói chính sự thay đổi nhận thức đã mở đầu cho bước đột phá trong sự phát triển. Không có sự nhận thức mới đúng đắn ấy, đất nước không có ngày nay. Tiếc rằng trong các chính sách phát triển hàm lượng văn hóa chưa tương xứng, chưa được chuyển hóa đúng, đủ trong nội dung phát triển.
Xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh là động lực quan trọng phát triển Thủ đô.
6. Lãnh đạo Đảng và nhà nước hay nói đến kỷ nguyên phát triển mới, trong đó nhấn mạnh đến sự thay đổi nhận thức: đó là xóa “điểm nghẽn của điểm nghẽn” trong thể chế để tạo môi trường cho sự phát triển; coi kinh tế tư nhân là nhân tố “quan trọng nhất” của sự phát triển; để “không có ai bị bỏ lại phía sau”; để “đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc”. Thiết nghĩ, đó là những nhận thức mới đặc biệt quan trọng, là cốt lõi của sự phát triển bền vững. Sự thay đổi này vừa có yêu tố phủ định, vừa có yếu tố tiếp nối nhưng điều quan trọng nhất là vượt qua chính mình để vươn tới tầm cao mới.
Một nhận thức mang tính khai phóng, góp phần giải phóng cho xã hội và con người khỏi những vòng kim cô lâu nay cản trở, thậm chí trói buộc sự vận động của xã hội và con người hướng tới sự hoàn thiện. Một cơ chế mới dân chủ, tự do, bình đẳng sẽ tạo cho con người cơ hội lao động sáng tạo và hưởng thụ những thành quả của mình. Đó là những đổi mới trong nhận thức về văn hóa, con người.
Hãy nhìn sang các nước phát triển thì thấy rất rõ điều này: họ có thể chọn thể chế theo hình thức dân chủ tư sản (lưỡng viện như Mỹ, Pháp, Ý, Đức, Singapore…) hay kết hợp giữa quân chủ lập hiến với nghị viện (Vương quốc Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Thái Lan v.v...) nhưng về văn hóa, họ luôn xem xét nó từ góc nhìn bản thể, đặc biệt là đánh giá con người (Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt. Đặc biệt vì thể chế giống chúng ta - nước xã hội chủ nghĩa - nhưng thực tế đất nước ấy vận hành theo một cơ chế hoàn toàn khác, trong đó có văn hóa). Vì thế họ tạo ra tự tự do, dân chủ và tôn trọng bản thể của văn hóa, con người nhưng vẫn quản trị xã hội theo một hệ thống luật pháp đủ và tiến bộ cho mọi lĩnh vực. Nhờ vậy họ tạo ra sự tự do cạnh tranh, và trong quá trình ấy chọn được những sản phẩm tốt nhất cho quá trình phát triển toàn diện.
Đến nay chúng ta vẫn đánh giá văn hóa từ góc nhìn chức năng, vẫn đánh giá hệ giá trị văn hóa từ ý thức hệ. Những gì nằm ngoài hai điều đó không được coi trọng. Nhân tố quan trọng nhất của văn hóa là con người lại được đánh giá từ nguồn gốc chính trị, lý lịch và bằng cấp chính trị chứ không phải bản lĩnh chính trị, không phải ở năng lực chuyên môn, không ở hiệu quả cống hiến, không ở nhân cách văn hóa. Đây là một điểm nghẽn trong nhận thức văn hóa cần điều chỉnh.
Khác với những cuộc nhận đường trước về văn hóa, cuộc nhận đường lần này mang quy mô rộng và tính chất quyết liệt hơn. Phải thay đổi tận gốc nhiều tín điều, nhiều nguyên lý đã thành nếp. Đặc biệt cần vượt lên chính mình để dám cởi bỏ những gì lỗi thời, thậm chí cả những lợi ích của chính mình để thay đổi. Thay đổi tận gốc là sự thay đổi triệt để, sâu sắc và lớn lao. Không chuẩn bị kỹ cả nhận thức khoa học lẫn phương thức thực hiện sẽ khó thành công.
PGS.TS Phạm Quang Long