Miếu Triệu Tường trên đất Gia Miêu Ngoại trang (xã Hà Long) - vùng đất Quý hương của nhà Nguyễn.
Nếu nhìn trên bản đồ tự nhiên, hiếm có địa phương nào sở hữu cấu trúc địa hình đa dạng, vị trí địa lý đặc biệt như mảnh đất xứ Thanh. “Rặng Tam Điệp như trăm dặm trường thành vây ngăn phía Bắc. Đèo Hoàng Mai chẳng khác cửa ải trấn giữ mặt phía Nam. Thêm vào, đằng Tây, rừng núi giáp Lào trùng điệp, đằng Đông biển cả bao la tạo thành một vành đai khép kín”. Tuy nhiên, vị trí địa lý xứ Thanh tựa hồ như “cánh cửa khép lại Bắc bộ và mở ra Bắc Trung bộ”, án ngữ trên trục giao thông huyết mạch cả nước, thông suốt ba miền. Chính vị trí địa – chính trị đặc thù ấy đã góp phần làm nên những đặc sắc về địa – tâm lý, cá tính vùng miền và văn hóa xứ Thanh.
Khảo cổ học lịch sử đã chứng minh, xứ Thanh là một trong những miền đất cổ xưa nhất của nước ta, cách ngày nay hàng chục vạn năm đã có con người cư trú. Về đất đai, cương vực xứ Thanh được hoạch định từ rất sớm và suốt tiến trình lịch sử hoàn toàn không hề có sự xáo trộn về chia cắt hay sáp nhập. Lịch sử đất nước phát triển thì lịch sử xứ Thanh cũng phát triển theo. Văn hóa cũng vậy, cùng một mạch nguồn chung.
Mặt khác, với địa hình rộng lớn, hội tụ đầy đủ các địa hình sinh thái vùng núi, trung du, đồng bằng và ven biển, xứ Thanh là nơi sinh sống, quần cư của nhiều dân tộc: Kinh, Mường, Thái, Thổ, Mông, Dao... Mỗi dân tộc và cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống đều mang trong mình những đặc trưng văn hóa riêng biệt, độc đáo được thể hiện qua phong tục, lễ tục, tập quán, sắc phục, tín ngưỡng... Những vỉa tầng văn hóa các dân tộc thiểu số đa dạng mà thống nhất, giao thoa và tỏa sáng rực rỡ trong bức tranh chung mang tên: sắc thái văn hóa xứ Thanh.
Nếu văn hóa Việt Nam lấy làng làm hạt nhân, thì văn hóa làng xứ Thanh chính là một trong những “chỉ dấu” đặc sắc nhất để nhận diện bản sắc vùng đất này. Tự thuở bình minh loài người, “từ các hang đá, mái đá nhìn ra dòng sông Mã, ngã ba sông Mã, rồi sông Chu, dựa vào núi rừng ngày càng thoai thoải về xuôi, cuộc sống của con người Việt cổ xứ Thanh giống như một dòng nước loang dần xuống thấp, dừng lại trước biển cả, đọng lại thành bản, thành mường, thành xóm, thành làng” (Khảo sát văn hóa làng xứ Thanh, Hoàng Anh Nhân - Lê Huy Trâm, NXB Khoa học xã hội, 1993). Cùng với sự vận động và phát triển, từ những “kẻ”, “xá”, “trang ấp - lộc điền”..., nhiều ngôi làng xứ Thanh đã định danh trong lịch sử dân tộc những dấu ấn đậm nét như: làng cổ Đông Sơn - nơi đầu tiên phát hiện ra những dấu tích của nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ thuộc thời đại kim khí cách đây 2.000 - 3.000 năm; làng Trung Lập – quê hương của Hoàng đế Lê Đại Hành; làng Gia Miêu – đất quý hương nhà Nguyễn; các làng khoa bảng Cổ Định, Hoằng Lộc, Nguyệt Viên...
Trong những biến thiên của lịch sử, nhiều giá trị truyền thống vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn qua hương ước, gia phả, lễ hội và nếp sinh hoạt cộng đồng. Cũng từ không gian làng, xã truyền thống ấy, xứ Thanh- một vùng folklore tiêu biểu của cả nước (nhìn ở góc độ văn hóa dân gian) dần hiện diện. Trên đất này, văn hóa dân gian “không ngừng bồi đắp, chồng chất, đan xen, cái nọ lồng vào cái kia, tầng tầng lớp lớp như phù sa của những dòng sông Mã, sông Chu, sông Yên là nguồn màu mỡ vô tận nuôi dưỡng tư tưởng, tâm hồn con người” (Về một vùng quê văn học dân gian, nhà nghiên cứu Hoàng Tuấn Phổ).
Văn học dân gian xứ Thanh có những truyền thuyết, huyền thoại dường như đã ăn sâu vào tiềm thức, trở thành tài sản chung của cả dân tộc như: Sự tích dưa hấu gắn với cuộc đời Mai An Tiêm; Từ Thức gặp tiên; huyền thoại hòn Trống Mái; sự tích hòn Vọng Phu... Truyện cười là thể loại văn học dân gian chung, nhưng xứ Thanh lại là quê hương của những câu truyện Trạng cười, Xiển Bột - những câu chuyện biết châm biếm, đả kích sâu cay chế độ phong kiến thối nát và chế độ thực dân áp bức, bóc lột Nhân dân. Sông Mã không chỉ riêng Thanh Hóa nhưng chỉ Thanh Hóa sản sinh ra điệu hò đặc trưng, phản ánh tình yêu lao động và cuộc sống qua tâm tình trên những chuyến đò ngược xuôi. Nhiều nhận định cho rằng, xứ Thanh là nơi xuất xứ của Tuồng, hát ca công. Xứ Thanh còn được xem là nơi phát tích, lưu giữ những bộ sử thi, truyện thơ dân tộc có giá trị đặc biệt như: “Đẻ đất đẻ nước”, “Khăm Panh” - những tác phẩm đồ sộ phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và ký ức cộng đồng của các dân tộc miền núi xứ Thanh.
Từ những di chỉ khảo cổ đến các công trình kiến trúc, lễ hội và tín ngưỡng..., tất cả đều chứng minh rằng xứ Thanh là một trong những “cái nôi” của văn hóa vật thể, phi vật thể. Theo số liệu thống kê sơ bộ, trên mảnh đất xứ Thanh hiện có 1.535 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được kiểm kê, bảo vệ. Trong đó, nhiều di tích, cụm di tích gắn với những giai đoạn trọng yếu của lịch sử dân tộc. Đó là Thành Nhà Hồ - tòa thành đá vững chãi suốt hơn 600 năm, lưu dấu vương triều Hồ; Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh – “kinh đô tâm linh” nhà Lê; cùng các Di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Lê Hoàn, đền Bà Triệu... Đâu chỉ có vậy, dạo bước dưới lồng lộng đất trời quê Thanh, từng mái đình cổ, từng bậc đá phong rêu, từng tiếng chuông chùa ngân vang... tựa hồ như những nét chấm phá, tô điểm cho bức tranh văn hóa xứ Thanh càng thêm sinh động, hấp dẫn.
Phong tục, tín ngưỡng, lễ hội... cũng góp phần quan trọng làm nên đặc sắc văn hóa xứ Thanh. Và chính ở đây mới thấy đậm đà hơn những sắc thái địa phương. Theo thống kê sơ bộ, cả nước có khoảng 8.000 lễ hội, riêng xứ Thanh có hàng trăm lễ hội với đầy đủ các loại hình, diễn ra sôi động, đặc sắc suốt “xuân thu nhị kỳ”. Không chỉ phong phú, đa dạng về số lượng, loại hình, kho tàng trò chơi, diễn xướng dân gian xứ Thanh còn mang nét đặc trưng riêng có. Ngược miền non cao, lòng ta rộn ràng theo ánh lửa bập bùng, âm vang tiếng cồng, chiêng, khua luống, ngan ngát men say rượu cần dẫn lối cho những câu hát Khặp, hát ru, Xường giao duyên cất lên khi thì thánh thót lúc lại dìu dặt, say đắm lòng người trong các lễ hội: Mường Xia (xã Sơn Thủy); nàng Han (Vạn Xuân), phủ Na (xã Xuân Du), Kin Chiêng Boọc Mạy (xã Yên Thọ)... Qua những cánh cổng làng là lễ tế kỳ phúc, lễ hội truyền thống được tổ chức dịp đầu năm như: Lễ hội đền Trần Hưng Đạo (xã Hoạt Giang); Lễ hội đền Bà Triệu (xã Triệu Lộc); Lễ hội đền Quang Trung (phường Tĩnh Gia); Lễ hội kỳ phúc làng Quỳ Chử (xã Hoằng Giang)... Đi về phía biển, những lễ hội đầu năm góp phần tô đậm bản sắc, tín ngưỡng: Lễ hội cầu phúc đền Độc Cước (phường Sầm Sơn), Lễ hội đua thuyền truyền thống trên sông Yên (xã Tiên Trang); lễ hội Cầu ngư (xã Vạn Lộc)...
Có thể nói, đặc sắc văn hóa xứ Thanh nằm ở khả năng dung hòa nhiều tầng giá trị: dân dã mà bác học, trữ tình mà phản biện, mang sắc thái địa phương đậm nét, đồng thời lại có sức lan tỏa thành giá trị chung của dân tộc. Chính điều đó đã làm nên vị thế đặc biệt của xứ Thanh trong bản đồ văn hóa Việt Nam - một vùng đất “khả ái”, “địa linh nhân kiệt”, “chiếc nôi” nuôi dưỡng ký ức và tâm hồn dân tộc Việt, có đầy đủ yếu tố của một tiểu vùng, một xứ, như một “Việt Nam thu nhỏ”.
Trong sự thống nhất đa dạng ấy, văn hóa xứ Thanh là minh chứng sinh động cho sức mạnh của con người trong việc tạo dựng, gìn giữ và lan tỏa những giá trị văn hóa bền vững cùng thời gian. Người xứ Thanh không chỉ tiếp nhận mà còn biết bảo tồn; không chỉ biết bảo tồn mà còn biết phát huy, sáng tạo để hình thành nên đời sống văn hóa, văn minh vừa mang đậm hồn dân tộc, vừa giao thoa và tỏa sáng rực rỡ trong sắc diện riêng. Văn hóa, đến lượt mình, lại bồi đắp tâm hồn và căn tính cho con người xứ Thanh, tạo nên mối quan hệ gắn bó hai chiều, bền chặt như mạch phù sa nuôi dưỡng đất đai qua năm tháng.
Bài viết sử dụng tư liệu trong các cuốn sách: “Địa chí Thanh Hóa”, tập II - Văn hóa xã hội, NXB Khoa học xã hội; “Tuyển tập sưu tầm - nghiên cứu Văn hóa dân gian Thanh Hóa”, Hoàng Anh Nhân, NXB Thanh Hóa; "Văn nghệ dân gian Thanh Hóa (1974 - 2001), Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Thanh Hóa.
Bài và ảnh: Đăng Khoa