Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG
Chiều cuối năm, nắng mỏng chiếu xiên qua tán cau ở hiên tây, rải chút vàng nhè nhẹ xuống sân gạch. Tôi tỉ mỉ biện bày mâm ngũ quả trong khoảng vắng lặng của ngôi nhà. Như vẫn thấy từng lời nói chậm rãi và dứt khoát chỉ cho tôi cách đặt nải chuối sao cho cân đối, cách xoay quả bưởi sao cho tròn mặt, xen kẽ cam, quýt sao cho hài hòa...
Mâm ngũ quả là linh hồn ngày Tết. Những ngày thơ bé, quê tôi còn đói nghèo và hẻo lánh lắm. Tết đến, có thể thiếu ăn, thiếu mặc một chút, thiếu thứ nọ đồ kia nhưng mâm ngũ quả thì nhất thiết phải tươm tất, chỉn chu. Không phải cao đầy, mà chính là trong cách lựa chọn, trong cách sắp đặt. Khách đến còn quan sát xem năm nay mâm ngũ quả nhà nào đẹp.
Ngày ấy, ở quê tôi chưa có quả phật thủ phổ biến như bây giờ. Có lẽ do lúc đó đi lại còn khó khăn. Mâm ngũ quả thường có chuối, bưởi, dứa, cam là những loại quả chính, không thể thay thế. Còn lại là quất, quýt và quả trứng gà là có thể thay nhau bày xen kẽ. Thật ra, đó cũng là những loại quả mà ở nơi đất đai cằn cỗi dễ trồng hơn cả. Mãi sau này, khi có phật thủ thì người ta ít dùng quả dứa. Hiếm lắm mới có nhà có bức tranh vẽ mâm ngũ quả trưng trên tường phía gian thờ. Mâm ngũ quả trong tranh cũng vẽ chuối, bưởi, cam, dứa... Bức tranh ngũ quả xưa vẫn rất rõ nét và sống động trong tôi.
Tôi nâng trên tay từng thứ quả, như một thói quen đã thành nếp. Mỗi lần Tết đến, bàn tay tôi vẫn lặp lại những động tác cũ, dù người dạy đã đi xa. Mâm ngũ quả năm nào cũng đủ chuối, bưởi, cam, quýt, dứa, mỗi thứ một vẻ, một mầu, xếp cạnh nhau trong một trật tự quen thuộc, gần gũi nhưng cũng rất thiêng liêng. Chuối gợi nhớ những mùa Tết sum vầy, căn nhà ấm lên bởi tiếng nói chuyện, bình luận nải chuối nào đẹp nhất. Bưởi gợi nhớ mùi vỏ tinh dầu, từ đầu thu, khi quả bắt đầu rám lại và ăn được, cha gom vỏ phơi dưới nắng hanh để dịp Tết sẽ đốt lên cho ấm nhà. Dứa gợi nhớ bàn tay cha xương xẩu, khô khốc, nhưng khéo léo vạch từng bụi gai để lựa chọn quả. Dứa gai góc là vậy nhưng nằm trong tay cha cảm giác nâng niu và vừa vặn đến thế.
Tết đến bây giờ bỗng thưa đi những thanh âm quen thuộc. Tiếng rít điếu, tiếng bước chân, tiếng chẻ củi... Những câu nhắc nhở tưởng chừng như người chỉ cất lên cho nhà cửa có tiếng mà giờ không còn tôi mới thấy được sự khuyết thiếu ấy. Tôi nhớ, trước khi bày mâm ngũ quả, cha dành cả buổi ra vườn, chọn từng loại quả một cách khắt khe, cẩn trọng. Vườn quả đã được cha chăm chút rồi lựa chọn giữ lại lứa quả nào cho ngày Tết, cha tính toán ngay từ đầu mùa quả. Cha sửa lại nải chuối cho cân. Cha bảo: “Nải chuối phải mở lòng ra nâng đỡ lấy các quả khác”. Tôi đặt nải chuối xuống trước tiên, vẫn là nải chuối xanh, cong đều, như một bàn tay mở. Quả bưởi được đặt vào lòng chuối, tròn, cân đối, yên ổn. Tôi xoay nhẹ, tìm một mặt phẳng nhất. Rồi đến quả dứa nằm nghiêng nghiêng tựa vào bưởi tạo thế đối trọng mà cân xứng. Những quả còn lại được xếp quanh, không quá chặt, cũng không quá thưa.
Tết trong tâm tưởng của người Việt chính là dịp mà những người đã vắng trở về nhiều nhất, không phải bằng hình hài mà bằng ký ức. Họ trở về trong một chỗ ngồi quen, trong cách sắp đặt, trong một thứ trật tự cũ không ai nói ra nhưng ai cũng làm theo. Cảm nhận về những người thân đã đi xa trở về trong ngày Tết rõ ràng đến mức chúng ta có thể trò chuyện, có thể cùng nhau ngắm nghía mâm ngũ quả để thấy sự gắn kết ấy rất rõ ràng.
Theo thời gian, ngày Tết bây giờ có thể chúng ta sẽ vắng dần ông, bà, cha, mẹ... Nhưng mâm ngũ quả thì vẫn hiện diện đủ đầy. Có lẽ, đó là cách người ở lại tự nhủ rằng, dù đời sống có hao hụt, chúng ta vẫn cần giữ lấy một sự đầy đặn nào đó để tựa vào. Tôi bưng mâm ngũ quả đặt lên ban thờ, thắp nén hương trong ngày cuối năm. Khói mỏng bay lên chậm rãi, thong thả. Nhìn mâm ngũ quả, nhìn khói hương tan dần trong không gian quen thuộc để biết ơn những người thân đã đi xa. Và nhận ra, Tết khi còn bé là mong chờ, Tết khi đã lớn là tiếp tục. Tiếp tục những việc cũ, những thói quen đã được trao lại, tiếp tục một cách sống mà mình đã học được từ những người đi trước.
Mâm ngũ quả sẽ được bày trên ban thờ gia tiên từ chiều ba mươi Tết đến hết những ngày đầu năm mới. Cùng với đó, khói hương ngày Tết sẽ được thắp liên tục để thể hiện sự tưởng nhớ gia tiên của con cháu. Ngày Tết vì vậy mà dù các thành viên trong gia đình không còn đầy đủ thì cảm giác ấm áp, sum vầy vẫn hiện diện, cho chúng ta tin vào những điều tốt đẹp trong năm mới.
Tranh của ĐẶNG DƯƠNG BẰNG.
Bán xôi lúc đơm xôi như hóa thân thành một nghệ sĩ tài danh. Những ngón tay nhỏ nhắn, xinh xắn, thoăn thoắt say mê đơm xôi, bào từng lát đỗ, phủ lên mặt xôi rồi lại nhanh nhẹn rưới mỡ và rắc hành phi. Hành khô được thái ngang củ, phi giòn trên chảo mỡ như những vẩy ốc mầu vàng nâu, hổ phách, qua bàn tay khéo léo nhuần nhị đã trở thành cái nhụy hoa mầu nâu sẫm trên bông hoa vàng điểm thêm những hạt ngô bung chín mọng. Xôi lúa thường được đơm trên lá sen. Ở Hà Nội xưa gói xôi cũng có cách thức riêng. Mảnh lá sen có hình cái quạt giấy hé mở, được đặt khum khum trong lòng một bát gốm Bát Tràng nhỏ mầu trắng lục với đường viền mầu xanh nước biển. Người bán hàng đơm xôi, cắt đậu, rưới mỡ, thêm hành khô lên xôi rồi gấp mấy góc lại.
Xôi có khi được ăn riêng hoặc ăn kèm với thịt, nộm… như một món ăn chính trong các bữa cỗ bàn, nhưng xôi còn được ăn kèm với các món chè như những món ăn tráng miệng cuối bữa ăn hay trong những lúc thưởng trà khi hội ngộ với bè bạn hay gia đình. Xôi lúa, xôi xéo, xôi lạc, xôi vừng thường được dùng trong các bữa ăn sáng. Xôi gấc được mời ăn khi bắt đầu bữa cỗ sau những chầu nhắm rượu. Xôi trắng thường được ăn kèm với thịt lợn, gà, ngỗng, ngan trong cỗ bàn. Xôi đậu xanh, xôi hoa cau thường được các bà, các mẹ nắm lại thành những nắm nhỏ “chim chim” cho các bé. Trong khi xôi vò lại được ăn kèm với các loại chè như: Chè hoa cau, chè đỗ đãi, chè bà cốt, chè đường ướp hoa nhài…
Tôi viết tản mạn về những xúc cảm, kinh nghiệm của mình về một món ngon của Hà Nội - xôi: Món ngon mà tôi yêu thích từ thủa ấu thơ. Sống xa quê mới thấy hết được giá trị trân quý của ẩm thực Hà Nội xưa. Những kỷ niệm xưa sống trong lòng tôi như những hạt bụi vàng mà tôi mãi mãi muốn thu góp, gìn giữ và mang theo.
Tản văn của NGUYỄN THỊ KIM NHUNG