Bản đồ hiển thị các vùng sản xuất vàng của Đông Nam Á. Nguồn: Anna T. N. Bennett, Gold in early Southeast Asia
Suvarnabhumi - vùng đất vàng
Trong những bản ghi chép cổ bằng tiếng Phạn, vùng đất Đông Nam Á hiện lên với danh xưng Suvarnabhumi - “vùng đất vàng”. Nhiều thế kỷ, người ta vẫn ngỡ đó là một biểu tượng văn chương về sự trù phú. Nhưng khi những chiếc mộ chum tại Lai Nghi (Điện Bàn) được khai quật, ánh kim của hơn 100 hạt chuỗi và những chiếc khuyên tai tinh xảo đã xác thực một thực tại khảo cổ học: Xứ Quảng chính là một trong những điểm kết nối quan trọng nhất của “vùng đất vàng” ấy.
Vàng trong văn hóa Sa Huỳnh không xuất hiện đơn lẻ. Nó là một phần của hệ thống trang sức phức tạp gồm đá quý, mã não và thủy tinh, phản ánh một xã hội đã có sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc và một gu thẩm mỹ vượt thời đại. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phân tích hiện đại LA-ICP-MS (quang phổ khối lượng plasma cảm ứng nối kết bằng laser), với các mẫu khuyên tai vàng Lai Nghi. Kết quả đạt độ tinh khiết tới 99,8 - 99,9%. Đây gần như là vàng ròng nguyên chất, một tỷ lệ cực khó đạt được nếu không có kỹ thuật tinh luyện bậc thầy.
Bộ sưu tâm trang sức vàng Lai Nghi. Ảnh: Bảo tàng Quảng Nam
Trong khi đó, các hạt chuỗi tại Gò Mùn có tỷ lệ vàng dao động từ 80 - 88%, được pha trộn có ý thức với bạc và đồng để tăng độ cứng và thay đổi sắc độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy người Sa Huỳnh không chỉ đơn thuần là những người thợ khai thác vàng sa khoáng. Họ là những nhà quan sát tinh tường và những người thợ học việc xuất sắc.
Qua phân tích chuyên sâu, các nhà khoa học phát hiện 3 trong 4 khuyên tai vàng được phát hiện tại Lai Nghi mang kỹ thuật chế tác cực kỳ lạ lẫm với truyền thống bản địa thời bấy giờ. Đó là kỹ thuật Granulation – hàn những đĩa vàng hoặc hạt vàng li ti lên bề mặt cốt. Vốn dĩ đây là kỹ thuật đặc trưng của các trung tâm kim hoàn cổ đại từ Ấn Độ hoặc Hy Lạp - La Mã theo những con tàu buôn cập bến xứ Quảng. Việc xuất hiện các khuyên tai có độ tinh khiết gần như tuyệt đối với kỹ thuật này cho thấy đây có thể là những sản phẩm ngoại nhập hoàn toàn hoặc được chế tác bởi những nghệ nhân ngoại quốc lưu trú tại đây.
Điểm thú vị nằm ở những chiếc khuyên tai “phiên bản Sa Huỳnh”. Cư dân cổ nơi đây sau khi tiếp xúc với các mẫu trang sức sang trọng từ các thương đoàn, đã tìm cách mô phỏng lại chúng. Thay vì dùng kỹ thuật hàn hạt phức tạp, thợ kim hoàn Sa Huỳnh đã sáng tạo ra kỹ thuật “giũa dây hạt”. Họ sử dụng vàng sa khoáng tại chỗ (thường có độ tinh khiết thấp hơn, khoảng 80 - 90% do pha lẫn bạc, đồng để tăng độ cứng), dát thành dây và dùng công cụ giũa để tạo hình các hạt nhỏ giả lập kỹ thuật ngoại.
Sự tồn tại song song của cả hàng ngoại nhập và hàng sản xuất tại chỗ trong cùng một khu mộ chứng tỏ người Sa Huỳnh đã rất chủ động trong việc học hỏi, làm chủ công nghệ và tạo ra một thị trường trang sức nội địa đáp ứng nhu cầu của tầng lớp quý tộc bấy giờ.
Không chỉ có Lai Nghi mà cả trong nhiều di chỉ khác như Gò Mùn, Gò Mả Vôi (Duy Xuyên) và mới nhất là di chỉ Thổ Chùa, Lạc Câu (Thăng Bình) được khai quật vào các năm 2024 – 2025 cũng đã phát hiện các hạt chuỗi vàng hoặc hạt chuỗi thủy tinh mạ vàng, cuộn vàng. Việc tìm thấy những hạt chuỗi vàng ở nhiều địa điểm khác nhau mang đặc điểm tương đồng với Lai Nghi, khẳng định sự tồn tại của một tầng lớp quý tộc giàu có, sở hữu những tài sản giá trị vượt xa nhu cầu sinh hoạt thông thường ở xứ Quảng từ hàng ngàn năm trước.
Đồ trang sức, chế tác từ chất liệu vàng và đá quý, Di chỉ khảo cổ Lai Nghi, phường Điện Bàn Đông - biểu hiện của quá trình giao thương trong lịch sử ở xứ Quảng.
Sự thăng hoa từ trang sức đến sự tôn vinhthần linh
Khi văn hóa Sa Huỳnh dần chuyển tiếp sang giai đoạn Champa sơ khởi, vàng thoát ly khỏi những hạt chuỗi nhỏ bé để bước vào không gian của đền tháp và thần linh.
Tại di chỉ Cấm Mít và di chỉ Phong Lệ, sự xuất hiện của các lá vàng dát mỏng dùng trong nghi lễ là một gạch nối quan trọng. Nhưng đỉnh cao phải kể đến các đầu tượng thần Siva bằng vàng (bộ Kosa Linga). Nếu vàng Sa Huỳnh là sự khoe diễn giàu sang cá nhân, thì trong văn hóa Champa, vàng là sự tôn vinh vĩnh cửu dành cho thần linh.
Những bộ Kosalinga này là sự kế thừa trực tiếp kỹ thuật dát mỏng và chạm nổi của tổ tiên Sa Huỳnh nhưng được nâng tầm ở một quy mô lớn hơn. Gương mặt thần linh được chạm khắc trên vàng ròng không chỉ là đỉnh cao về nghệ thuật tạo hình mà còn là minh chứng cho việc làm chủ kỹ thuật đúc và gò khối phức tạp. Vàng lúc này đã trở thành “linh hồn” kết nối giữa vương quyền và thần quyền.
Dòng chảy vàng xứ Quảng không chỉ nằm ở các hiện vật trong bảo tàng, nó còn in dấu trên địa hình vùng núi phía tây Quảng Nam. Đi dọc các xã như Phú Ninh (vùng Tam Lãnh cũ), xã Phước Trà, Phước Hiệp, Tiên Phước đã ghi nhận nhiều hệ thống hầm lò cổ đại.
Chính những dấu tích khai thác vàng từ thời tiền - sơ sử này đã dẫn lối cho người Pháp vào cuối thế kỷ 19 xây dựng đại công trường Bồng Miêu trên chính nền tảng của các mỏ vàng mà người Sa Huỳnh và Champa từng khai thác thủ công. Điều này khẳng định một sự liên tục về địa kinh tế: Xứ Quảng luôn là một “kho vàng” của khu vực, nơi nguồn nguyên liệu thô từ rừng núi chảy xuống các xưởng chế tác hạ lưu, tạo nên sự phồn vinh cho các cảng thị.
Đoàn khảo cổ dùng rây để phát hiện những hạt cườm tấm nhỏ li ti tại Lai Nghi.
Bộ sưu tập vàng Lai Nghi hiện đã được công nhận Bảo vật quốc gia. Nhưng giá trị của nó không chỉ nằm ở chất liệu kim loại quý. Đó là bằng chứng về một cộng đồng cư dân năng động để học hỏi kỹ thuật quốc tế và tạo nên bản sắc riêng tỏa sáng trên bản đồ kim hoàn thế giới.
Ngày nay, với sự hỗ trợ của công nghệ số, những hạt vàng từ mộ chum Lai Nghi hay những bộ Kosalin rực rỡ sẽ không còn nằm im lìm trong két sắt bảo quản của kho chưa bảo tàng. Chúng sẽ kể lại câu chuyện về một thời đại mà cha ông chúng ta đã biết dùng ánh vàng từ đất Quảng để tỏa sáng và kết nối với thế giới rộng lớn ngoài đại dương.
TS. HÀ THỊ SƯƠNG