Phóng viên ghi nhận tại xã Thăng Long (Thanh Hóa) – nơi sản xuất miến gạo lớn nhất tỉnh – những ngày cận Tết Nguyên đán, cả làng gần như không ngủ. Từ sáng sớm đến đêm khuya, tiếng máy xay gạo, tráng bánh, chạy sợi vang khắp các thôn xóm; sân vườn, ngõ làng, nhà văn hóa phủ kín những giàn miến trắng trong, báo hiệu vụ sản xuất nhộn nhịp nhất trong năm đã vào cao điểm.
Nghề làm miến gạo ở xã Thăng Bình, Thanh Hóa.
Gạo dùng để làm miến được trồng tại địa phương.
Gắn bó với nghề làm miến hơn 20 năm, ông Lê Bá Phiệt (64 tuổi, thôn Tân Giao) cho biết, trung bình mỗi năm gia đình ông sản xuất khoảng 20 tấn miến, doanh thu trên 100 triệu đồng. Riêng vụ Tết, cường độ lao động tăng gấp nhiều lần, mỗi ngày gia đình làm khoảng 200 kg miến, thu nhập đạt 500.000 – 600.000 đồng.
"Vất vả nhất là khâu phơi, phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Nhưng bù lại, miến gạo Thăng Long có đầu ra ổn định, giá bán tốt nên gia đình phải tăng công suất để kịp đơn hàng dịp Tết", ông Phiệt nói.
Đây là công đoạn nghiền bột gạo.
Từ máy nghiền, trộn bột sẽ cho ra được các sợi miến.
Bận rộn không kém, chị Nguyễn Thị Hằng (thôn Tân Giao) thường dậy từ 4h sáng để ngâm gạo, xay bột, chạy miến. Đến chiều, chị lại tất bật cân, đóng gói sản phẩm giao cho thương lái. "Vụ Tết gần như không có ngày nghỉ, nhưng bù lại có thêm thu nhập để lo Tết cho gia đình", chị chia sẻ.
Theo người dân, để làm ra những sợi miến trắng trong, dai mềm đặc trưng, người thợ phải tuân thủ nghiêm ngặt từng công đoạn, bắt đầu từ khâu chọn nguyên liệu. Gạo làm miến chủ yếu là giống Khang Dân, Kim Cương – loại gạo có độ bột cao, hạt nguyên, không nát. Gạo sau khi ngâm, xay thành bột nước sẽ được lọc, ủ, hấp chín rồi đưa vào máy tạo sợi. Miến được phơi nắng hoặc sấy khô trước khi đóng gói, mỗi khâu đều ảnh hưởng trực tiếp đến màu sắc, độ dai và hương vị thành phẩm.
Có những người lớn tuổi đã gắn bó với nghề miến hơn 20 năm.
Miến phải được phơi dưới nắng thì mới thơm ngon, đạt chất lượng.
Từ khi miến gạo Thăng Long được công nhận OCOP 3 sao và nâng hạng lên 4 sao vào năm 2024, lượng khách hàng tìm về đặt mua ngày càng tăng, sản lượng toàn xã tăng khoảng 30% mỗi năm. Nhiều đơn hàng lớn từ các tỉnh, thành phố được ký kết, buộc các cơ sở phải hoạt động hết công suất.
Hiện nay, phần lớn các hộ làm nghề đã đầu tư dây chuyền máy móc hiện đại, sản xuất không sử dụng chất phụ gia, chất bảo quản hay chất làm trắng, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Để xây dựng thương hiệu bền vững, xã Thăng Bình đã hình thành vùng nguyên liệu chuyên canh lúa Khang Dân với diện tích khoảng 240 ha, cung ứng hơn 1.500 tấn thóc mỗi năm cho sản xuất miến.
Miến được đóng gói, chuẩn bị đưa ra thị trường.
Vụ Tết có thể mang về doanh thu hàng trăm triệu đồng cho các hộ dân.
Nghề làm miến gạo ở Thăng Bình hình thành từ những năm 1990. Ban đầu, sản xuất hoàn toàn thủ công, sản lượng thấp, chỉ có vài chục hộ theo nghề. Những năm gần đây, việc mạnh dạn đầu tư máy móc ở các khâu xay bột, chạy sợi, sấy miến giúp năng suất tăng rõ rệt, thu nhập của người làm nghề ổn định hơn. Năm 2016, làng miến gạo Thăng Long được công nhận là làng nghề truyền thống; đến năm 2020, sản phẩm đạt OCOP 3 sao.
Toàn xã hiện có gần 60 hộ sản xuất miến gạo, bình quân mỗi hộ đạt doanh thu 200 – 300 triệu đồng/năm; sau khi trừ chi phí, thu nhập còn lại khoảng 70 – 90 triệu đồng. Sự ra đời của Hợp tác xã dịch vụ sản xuất miến gạo Thăng Long từ năm 2018 đã góp phần tổ chức sản xuất theo hướng bài bản, nâng cao giá trị sản phẩm.
Ông Trương Hữu Hoa, Giám đốc HTX cho biết, hiện HTX có 28 thành viên, mỗi năm sản xuất 700 – 800 tấn miến, cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh. "Để phục vụ Tết Nguyên đán 2026, HTX dự kiến tăng sản lượng 15 – 20% so với ngày thường. Dịp này, bà con phải tranh thủ từng ngày, từng mẻ miến", ông Hoa nói.
Theo UBND xã Thăng Bình, mỗi năm các hộ sản xuất hơn 800 tấn miến gạo, giá trị khoảng 16 tỷ đồng. Miến được sản xuất quanh năm, nhưng từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch là vụ chính. Không chỉ mang lại nguồn thu ổn định, làng nghề còn tạo việc làm cho hàng trăm lao động địa phương, nhất là thời gian nông nhàn. Tuy vậy, người làm nghề vẫn đối mặt với nhiều khó khăn như thời tiết thất thường, chi phí đầu vào tăng cao và lớp lao động trẻ ngày càng ít gắn bó với nghề truyền thống.
Lương Thị Diễn