Quê là gì mà nặng lòng đến thế!
Mỗi năm, khi những tờ lịch cuối cùng của tháng Chạp mỏng dần, và khi những cơn gió bấc mang theo cái lạnh se sắt luồn qua những khe cửa hẹp của chốn thị thành, tôi lại thấy một sự chuyển động vĩ đại diễn ra trên khắp dải đất hình chữ S. Những bến xe nghẹt thở, những sân bay chật cứng, những dòng người xe máy lỉnh kỉnh đồ đạc nối đuôi nhau kéo dài vô tận trên quốc lộ trong mưa phùn gió bấc. Người ta chen chúc, người ta chờ đợi, người ta chịu đựng.
Sân bay Tân Sơn Nhất (TP.HCM) đông nghẹt người những ngày giáp Tết Bính Ngọ. Ảnh: Lệ Hằng
Tại sao? Có động lực kinh tế nào, có lợi ích vật chất nào ghê gớm đến mức khiến người ta phải "hành xác" như thế? Tại sao mà nhất định phải "về"? Vé tàu xe đắt đỏ, đường sá gian nan, về đến nhà thì dọn dẹp mệt nhoài, ăn uống vài bữa rồi lại khăn gói ra đi. Xét về cái lý của sự "được - mất", đó là một sự lãng phí.
Nhưng người Việt không sống chỉ bằng cái lý. Người Việt sống bằng cái Tình và cái Đạo. Với tôi, cuộc đại di cư ngày Tết không đơn thuần là sự di chuyển địa lý từ điểm A đến điểm B. Đó là một cuộc hành hương. Một cuộc hành hương ngược dòng thời gian, ngược dòng ký ức, để tìm về cái chốn sơ nguyên của tâm hồn mình.
Chúng ta rời làng ra phố. Phố thị cho ta cơm áo, cho ta danh vọng. Ở phố, ta sống theo thời gian của những chiếc đồng hồ tích tắc không ngừng của deadline. Ta là ông giám đốc, là bà trưởng phòng, là kẻ làm công…Ta có "nhà" ở phố nhưng chưa chắc ta đã có "tổ ấm".
Nhưng khi Tết đến, quy luật của thời gian dường như thay đổi. Tết là thời khắc thời gian ngưng lại và cuộn tròn. Đó là thời gian tuần hoàn. Xuân đi rồi Xuân đến. Và trong cái chu kỳ vĩnh cửu ấy, con người ta bỗng thấy sợ sự trôi dạt vô định. Ta thèm khát một cái Neo.
Quê hương chính là cái Neo ấy.
Tết Đoàn Viên
Người Việt "nhất định" về quê, là để tìm lại sự toàn vẹn của chính mình. Khi bàn chân chạm xuống con đường đất đầu làng, khi hít vào lồng ngực mùi khói đốt đồng hăng hăng, mùi bùn non ngai ngái, hay mùi hương trầm thoang thoảng từ ngôi chùa cổ, tự nhiên những lớp mặt nạ rơi xuống. Ta không còn là ông này bà nọ. Ta trở về là cái Tí, cái Na của ngày xưa. Ta được trần trụi với cảm xúc, được khóc cười hồn nhiên như đứa trẻ. Về quê, là để được bé lại. Bé lại trong vòng tay của đất đai, của mẹ cha là một ân sủng.
Sâu xa hơn, cái sự "về" ấy còn mang một màu sắc tâm linh huyền bí, gắn liền với triết lý về Sự sống và Cái chết của dân tộc.
Tết, trong tâm thức Việt, là cuộc hội ngộ vĩ đại giữa Người sống và Người đã khuất. Những ngày Tết, bàn thờ là trung tâm của vũ trụ gia đình. Người Việt tin rằng, chết không phải là hết, chết là rời khỏi cõi tạm để về với cõi vĩnh hằng, và tổ tiên vẫn luôn dõi theo con cháu. Chiều ba mươi Tết, khi nén hương được thắp lên, khói hương bay lên bảng lảng nối liền hai thế giới Âm - Dương. Đó là lúc cánh cửa vô hình được mở ra.
Người ta về quê, vượt ngàn dặm đường xa, nhiều khi chỉ để được tự tay thắp một nén nhang lên mộ ông bà, để mời tổ tiên về ăn Tết. Cái hành động ấy, nhìn bên ngoài thì giản dị, nhưng bên trong là cả một bầu trời văn hóa. Đó là sự xác tín về nguồn cội. Cây có cội mới trổ cành xanh lá, nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông. Chữ Viên nghĩa là tròn. Đó không chỉ là vòng tròn tuần hoàn của vũ trụ, mà đó còn là vòng tròn huyết thống, một vòng tròn khi cả người còn sống và những người đã khuất nắm được tay nhau. Tết Đoàn Viên trong lòng người Việt nó nặng là như vậy.
Tôi hay nghĩ đến từ "Bản lai diện mục" trong nhà Phật – khuôn mặt xưa nay của chính mình. Phải chăng, suốt một năm dài, ta đã đánh mất khuôn mặt ấy giữa chợ đời huyên náo? Và Tết là lúc ta về đứng trước bàn thờ gia tiên, soi mình vào di ảnh người xưa để tìm lại khuôn mặt thật? Đứng trước tổ tiên, con người ta buộc phải thành thật. Lúc ấy, mọi tị hiềm, mọi bon chen tan biến. Chỉ còn lại lòng biết ơn và sự kính ngưỡng. Về quê, vì thế, là một liệu pháp "tắm gội" cho tâm hồn. Ta gột rửa bụi trần để nạp lại năng lượng tinh khiết cho một hành trình mới.
Nếu không về, nếu Tết này vắng mặt, người ta cảm thấy có lỗi. Cái lỗi ấy không ai trừng phạt, nhưng lương tâm thì day dứt. Đó là cái Đạo – Đạo hiếu, Đạo làm người. Cái Đạo ấy không cần sách vở giáo điều, nó nằm ngay trong tiếng gọi thầm kín của con tim: "Về đi con, ông bà đang đợi".
Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ
Và nói đến đợi chờ, làm sao không nhắc đến những người đang sống? Có một lý do trần thế hơn, nhưng lại nhói lòng hơn, khiến những người con nhất quyết phải về: Đó là Mẹ, là Cha.
Mỗi cái Tết qua đi, lưng mẹ lại còng thêm một chút, mắt cha lại mờ đi ít nhiều. Những người trưởng thành về quê là vì nỗi sợ.
Sợ rằng một mai kia, khi trở về, cái bóng dáng gầy gò đứng ngóng ở đầu ngõ ấy sẽ không còn nữa. Sợ rằng căn nhà xưa sẽ trở nên lạnh lẽo khói hương, và tiếng "Mẹ ơi" sẽ rơi vào hư không.
Có ai đó đã ví von rất hay: Cha mẹ là Quê hương. Còn cha mẹ là còn lối để về. Mất cha mẹ, quê hương bỗng hóa thành đất khách. Lúc ấy, dù có về lại chốn xưa thì cũng chỉ là về thăm một kỷ niệm, chứ không phải là "Về Nhà". Chính cái tâm thức sợ mất mát, sợ sự hữu hạn của kiếp người đã thôi thúc những đôi chân mỏi mệt bước nhanh hơn. Cuộc trở về này là cuộc chạy đua với thời gian. Người ta về để tranh thủ yêu thương, tranh thủ được hầu hạ đấng sinh thành.
Tranh minh họa: Trần Nguyên
Về đi thôi
Thành phố ngày Tết thường vắng vẻ. Còn ở quê, cái ồn ào của tiếng lợn kêu, tiếng chày giã giò, tiếng chào hỏi í ới của xóm giềng... lại tạo nên sự bình yên. Đó là bình yên của kết nối.
Trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội
Có một miền quê trong đi, đứng, nói, cười
(Nguyễn Duy)
Xã hội hiện đại làm chúng ta đứt gãy. Chúng ta kết nối với cả thế giới qua internet nhưng lại đứt kết nối với người hàng xóm, thậm chí đứt kết nối với chính người thân trong nhà. Về quê là để nối lại những sợi dây đã đứt. Cái tình làng nghĩa xóm, sự quan tâm đôi khi hơi sỗ sàng nhưng chân chất của người quê, nó nhắc nhở ta rằng ta thuộc về một cộng đồng. Ta là một mắt xích trong mạng lưới chằng chịt của những mối quan hệ thân tộc và địa lý. Ta không bơ vơ.
Có những người bảo: "Thời đại AI rồi, gọi video call là thấy mặt, chuyển khoản là xong quà, cần gì phải về cho tốn kém". Tôi cho rằng đó là suy nghĩ của những người chưa thấu hiểu hết chữ "Tình" của người Việt, hoặc giả họ đang cố dùng lý trí để biện minh cho hoàn cảnh. Công nghệ có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh, nhưng không thể truyền tải được hơi ấm. Bạn không thể ngửi thấy mùi hương nhu trong nồi nước tắm tất niên của mẹ qua màn hình điện thoại. Bạn không thể cảm nhận được cái run rẩy của bàn tay cha khi đón lấy món quà mừng tuổi qua Facetime.
Con người, suy cho cùng, là sinh vật của cảm xúc. Chúng ta cần sự hiện diện. Sự hiện diện bằng xương bằng thịt là món quà quý giá nhất mà ta có thể trao tặng cho người thân. Chữ "Hiếu" của người Việt, đỉnh cao nhất không phải là vật chất, mà là sự "nuôi chí" và sự "có mặt".
Dẫu biết rằng "mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh". Cũng có những người không thể về. Vì mưu sinh, hay vì một nỗi niềm u uẩn nào đó. Những đêm giao thừa, tôi thường nghĩ đến họ với một niềm cảm thương sâu sắc. Ở một góc trọ nào đó, họ đang hướng về quê hương bằng tâm tưởng. Với họ, "Về" là một giấc mơ. Và đôi khi, hành trình trở về trong tâm tưởng ấy còn mãnh liệt hơn, day dứt hơn cả những chuyến đi thực.
Mùa xuân đang gõ cửa. Ngoài kia, những chuyến xe bắt đầu lăn bánh. Tôi nhìn thấy ánh sáng hy vọng trong ánh mắt của những người đang hối hả xếp hàng mua vé. Họ đang khẳng định: Dù cuộc đời có dâu bể thế nào, thì vẫn còn một nơi chốn bao dung giang rộng vòng tay đón họ trở về. Nơi ấy, không cần vé vào cửa.
Nơi ấy là Nhà.
Vậy nên, hãy cứ về. Đừng ngại đường xa, đừng ngại tốn kém. Bởi vì mỗi bước chân trở về là một bước chân vun bồi cho cội rễ. Cây đời có xanh tươi cũng nhờ gốc rễ ấy hút nhựa từ lòng đất mẹ. Văn hóa dân tộc được trường tồn cũng nhờ những cuộc hành hương bền bỉ mỗi độ xuân về.
Về đi thôi. Mẹ già đang ngồi hong tóc bên hiên, đếm từng tờ lịch rơi...
Đạo diễn Trương Công Tú