Loạt bài là cái nhìn trực diện vào nỗi đau phía sau những dây địu hằn vai, khẳng định: Việc xóa bỏ định kiến không chỉ để giải phóng sức lao động, mà cốt lõi là trả lại quyền tự quyết và cơ hội phát triển cho phụ nữ, trẻ em vùng cao, tạo đà cho sự phồn vinh của giống nòi.
Có những người phụ nữ ở tuổi ba mươi nhưng gương mặt đã hằn lên vết chân chim tuổi xế chiều. Suốt 15 - 20 năm ròng rã, thế giới của họ chỉ quanh quẩn từ chiếc giường ra đến xó bếp với những lần ở cữ nối dài. Không phải do thiếu thuốc tránh thai hay sự quan tâm của cán bộ y tế, mà chính “luật tục” về cái đinh nối dõi và tư duy cần sức người làm rẫy đã biến người phụ nữ thành những chiếc bóng lặng lẽ.
4 đời tảo hôn và những vòng đời bị đánh cắp
Vượt qua những cung đường dốc cheo leo, chúng tôi tìm đến Thượng Nguồn - thôn đặc biệt khó khăn của xã Liên Hiệp. Toàn thôn có 54 hộ, 317 nhân khẩu với 100% số hộ là đồng bào Mông. Nhưng có một con số từ Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Giàng Seo Sàng đưa ra khiến bất cứ ai nghe cũng phải giật mình: Khoảng 70% số hộ trong thôn vướng vào tảo hôn.
Đông con, nhiều cháu khiến áp lực mưu sinh đè nặng lên nhiều gia đình ở thôn 6 Minh Tiến, xã Bình Xa.
Thôn hiện còn 15 hộ nghèo, cận nghèo, thì có tới 10 cặp vợ chồng trong số ấy từng là những đứa trẻ sinh ra… những đứa trẻ. Anh Sàng chua xót: “Khi những cô bé, cậu bé rủ nhau về chung sống dưới một mái nhà, thứ chờ đợi họ không phải là hạnh phúc đủ đầy, mà là chuỗi ngày bi đát: Lấy vợ, lấy chồng sớm, đẻ con còi và lay lắt vì không có kinh tế nuôi con”.
Gia đình ông G.S.S. và vợ G.T.D. cùng sinh năm 1967 là lát cắt buồn về sự lặp lại của số phận. Trong nếp nhà nhuốm màu thời gian, câu chuyện về 4 đời tảo hôn được kể lại như một định mệnh đã an bài. Khi mới 16 tuổi, cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, ông G.S.S. và bà G.T.D. đã về chung một nhà và phải gánh trên vai cả một gia đình. Đến đời con ông bà, vòng lặp ấy tiếp tục tái diễn. Con trai ông bà là Giàng Seo S. và con dâu Hoàng Thị D. nên vợ thành chồng năm 2001 khi đó, chú rể mới 13 tuổi, còn cô dâu vừa chớm 14.
Chưa kịp lớn, đôi vợ chồng “trẻ em” ấy đã phải gánh trên vai trách nhiệm làm cha, làm mẹ khi đón con gái đầu lòng vào năm 2002. Cứ ngỡ những nhọc nhằn của thế hệ đi trước sẽ là bài học đắt giá, nhưng “vết hằn dây địu” lại một lần nữa siết chặt lấy đời con gái. Cô bé học hết lớp 10 thì nghỉ học và mang thai khi mới 16 tuổi. Rồi phải chờ đợi đến hai năm sau đủ tuổi, vợ chồng mới đi làm giấy đăng ký kết hôn, một thủ tục hành chính muộn màng cho một cuộc hôn nhân đã “chín ép” từ lâu. Và cứ thế, anh Giàng Seo S. lên chức ông ngoại khi vừa tròn 30 tuổi, cái tuổi mà nhiều người trẻ ngoài kia mới bắt đầu vững bước lập nghiệp.
Nhìn cháu ngoại bé loắt choắt và cậu con trai út đang học lớp 8, anh Giàng Seo S. thở dài: “Trẻ con bỏ học sớm, quanh quẩn nương rẫy, thấy xung quanh các bạn 13 - 14 tuổi đã dựng vợ gả chồng thì cứ thế bắt chước theo. Nhận thức chưa có nhưng lỡ mang bụng bầu về thì cha mẹ dù biết sai luật cũng đành nhắm mắt cho “cưới chui”. Cái nghèo đẻ ra thất học, thất học lại đẻ ra tảo hôn, vòng luẩn quẩn ấy cứ bám riết lấy nhà mình từ đời bố mẹ, đời mình, rồi giờ lại vận cả vào đời con gái...”.
Đẻ nhiều để có người "cầm cuốc", người "thắp hương”
Nếu như thôn Thượng Nguồn, nỗi đau nằm ở sự vội vàng của những cuộc hôn nhân con trẻ, thì ở thôn 6 Minh Tiến, xã Bình Xa, nỗi ám ảnh lại nằm ở con số “kỷ lục” về số lần vượt cạn của phụ nữ.
Gặp chị Hạng Thị D. trong một buổi chiều tà, ấn tượng đầu tiên đập vào thị giác chúng tôi là “bụng bầu vượt mặt”, tay dắt đàn con thơ nít nhít. Mới bước qua tuổi 31 - độ tuổi mà nhiều phụ nữ hiện đại đang ở độ chín rực rỡ nhất của thanh xuân, thì cuộc đời D. lại quẩn quanh với một điệp khúc duy nhất: Chửa, đẻ, ở cữ rồi lại... chửa.
Năm 2015, D. sinh con đầu lòng. Cơ thể chưa hồi phục, vết rạn da chưa kịp mờ thì năm 2016, con thứ hai chào đời. Rồi lần lượt năm 2018, 2022, những đứa trẻ tiếp theo cứ thế ra đời như một lẽ hiển nhiên. Hiện tại, dù đã có đủ cả “nếp tẻ” với 1 trai đầu lòng, 3 gái kế tiếp, cái thai thứ 5 vẫn đang lùm lùm trước bụng người mẹ trẻ. Chồng chị D., anh Thào Văn S. bộc bạch một cách vô tư: “Mình thích thì mình đẻ thôi!. Trời sinh voi trời sinh cỏ”. Câu tục ngữ ấy được anh S. thốt ra nhẹ tựa lông hồng, nhưng lại giáng xuống đôi vai người vợ một gánh nặng ngàn cân. Thực tế, không phải chị D. không biết đến trạm y tế, không biết các biện pháp tránh thai mà bởi cơ thể chị vô hình trung đã trở thành “công cụ” để duy trì một “lý tưởng” xót xa, như chính lời chị chia sẻ: “Bố mẹ mình đẻ được nhiều con trai thì mình cũng đẻ theo thôi, để sau này anh em nương tựa vào nhau”.
Nhìn vào “gia phả sinh nở” của hai bên nội, ngoại đều thuộc thế hệ 7X, 8X sinh sống cùng thôn, chúng tôi mới thấu hiểu vì sao người mẹ 31 tuổi ấy lại coi việc sinh nở liên tục là một nghĩa vụ tất yếu. Bố mẹ ruột của D. có tới... 10 người con (4 trai, 6 gái). Nghĩa là chỉ trong vòng đúng 10 năm (từ khi D. ra đời năm 1995 đến em út sinh năm 2005), mẹ D. đã đẻ sòn sòn gần một… “đội bóng”. Về phía nhà chồng, bố mẹ Thào Văn S. cũng “đóng góp” vào kỷ lục của bản với 7 người con, trong đó có 5 con trai.
Không riêng gia đình chị D., ở thôn 6 Minh Tiến - nơi có 154 hộ đồng bào Mông, chiếm hơn 65% dân số toàn thôn, những gia đình đông con vẫn còn khá phổ biến. Những “kỷ lục” về sinh sản tại đây khiến bất cứ ai làm công tác dân số cũng phải bàng hoàng. Chị Sùng Thị L. đã trải qua 13 lần sinh nở, hiện cả gia đình có 16 nhân khẩu với ba thế hệ cùng chen chúc dưới một mái nhà. Hay gia đình chị Ngô Thị D., Lý Thị C., Đào Thị Đ. với “gia tài” từ 10 - 11 người con.
Vượt ngưỡng sinh, hụt ngưỡng phát triển
Theo số liệu mới nhất từ Cục Dân số (Bộ Y tế): Mức sinh của nước ta hiện chỉ đạt 1,91 con/phụ nữ, trượt dài khỏi ngưỡng sinh thay thế lý tưởng (2,1 con/phụ nữ) và chính thức đưa Việt Nam vào nhóm 5 quốc gia có mức sinh thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Điều này đồng nghĩa với việc nếu xu hướng kéo dài, dân số sẽ dần già hóa, lực lượng lao động suy giảm và nguy cơ tăng trưởng chững lại trong tương lai. Đứng trước nguy cơ này, chiến lược trọng điểm của quốc gia đến năm 2030 là nỗ lực duy trì vững chắc mức sinh thay thế, nới lỏng các quy định và khuyến khích mỗi gia đình sinh đủ hai con để kiến tạo một quy mô dân số ổn định. Trong đó, bãi bỏ tiêu chí giảm sinh con thứ 3 trở lên, khuyến khích phụ nữ kết hôn trước tuổi 30 và sinh đủ hai con trước tuổi 35.
Tuy nhiên, bức tranh ấy không đồng đều. Ở các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, mức sinh chỉ còn khoảng 1,43 con/phụ nữ, thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Trong khi đó, các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Tuyên Quang đạt mức sinh 2,55 con/phụ nữ và Tuyên Quang là tỉnh đứng thứ hai cả nước chỉ sau Điện Biên. So với mức trung bình quốc gia, con số này cao hơn tới 0,64 con/phụ nữ, một khoảng cách rất lớn về mặt nhân khẩu học.
Theo các chuyên gia, mức sinh cao, về lý thuyết, có thể tạo ra lợi thế dân số. Nhưng điều đó chỉ đúng khi trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường đủ dinh dưỡng, được học hành đầy đủ và có cơ hội phát triển. Thực tế ở nhiều thôn bản vùng cao của Tuyên Quang cho thấy điều ngược lại: Sinh nhiều lại kéo theo sự phân tán nguồn lực, mỗi đứa trẻ nhận được ít hơn về giáo dục, chăm sóc y tế và cơ hội vươn lên. Không ít gia đình đông con rơi vào vòng xoáy quen thuộc: Sinh nhiều - nghèo đói - trẻ bỏ học sớm - tảo hôn - lao động sớm - rồi tiếp tục sinh nhiều ở thế hệ sau. Điều đó khiến dân số tăng về số lượng, nhưng không tỷ lệ thuận với chất lượng nguồn nhân lực.
Vết hằn dây địu không chỉ để lại dấu tích trên vai, mà còn hằn sâu vào cả tương lai của những người đàn bà vùng cao và những đứa trẻ “phải làm người lớn” sớm. Hệ lụy ấy không dừng lại ở đói nghèo vật chất, mà còn là nỗi đau của sự kiệt quệ về thể chất và tinh thần đối với người phụ nữ mà không phải ai cũng nhìn thấy.
Bài, ảnh: Chúc Huyền, Giang Lam, Biện Luân, Thu Phương
(Còn nữa)