Thách thức từ nhiều rủi ro
Anh H.M.T (31 tuổi, trú tại phường An Lạc, TPHCM) nhập viện cấp cứu trong tình trạng đau bụng vùng hố chậu phải kèm sốt nhiều cơn kéo dài hai ngày.
Các bác sĩ xác định anh T. bị viêm ruột thừa cấp cần mổ ngay. Tuy nhiên, thách thức với các bác sĩ lúc này là anh T. bị Thalassemia thể nặng, phải truyền máu định kỳ suốt gần 30 năm. Mỗi tháng, anh cần truyền 2 đơn vị hồng cầu lắng để duy trì sự sống. Việc truyền máu kéo dài gây tình trạng quá tải sắt, từ đó ảnh hưởng chức năng gan và nhiều cơ quan khác.
Thạc sĩ, bác sĩ Phan Bảo Toàn, Bệnh viện Gia An 115 (TPHCM) cho biết, ca bệnh này có gan to, lách to độ IV. Xét nghiệm cho thấy tình trạng thiếu máu rất nặng với hemoglobin chỉ 5,3 g/dL, rối loạn đông máu, chỉ số này đồng nghĩa với nguy cơ cao trong cả gây mê lẫn phẫu thuật.
Trong khi đó, viêm ruột thừa cấp nếu không được xử trí kịp thời có thể tiến triển thành hoại tử ruột thừa, hình thành áp xe hoặc viêm phúc mạc lan tỏa đe dọa tính mạng bắt buộc phẫu thuật. Tình trạng của người đàn ông trẻ hết sức ngặt nghèo.
Lúc này, ê-kíp đã phải cân não, phối hợp chặt chẽ nhiều chuyên khoa, xây dựng kế hoạch truyền máu, kiểm soát đông máu và dự phòng các biến chứng có thể xảy ra.
Bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật nội soi cắt ruột thừa 1 trocar (đường vào) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu nhằm hạn chế sang chấn thành bụng và giảm nguy cơ mất máu.
Các bác sĩ quyết định mổ cấp cứu cho bệnh nhân. Ảnh: BVCC.
Bác sĩ Toàn chia sẻ, ở ca bệnh bình thường, nội soi cắt ruột thừa sử dụng 3 trocar đặt tại rốn, hố chậu phải và vùng trên xương mu để đưa camera và dụng cụ vào ổ bụng. Trong khi đó, kỹ thuật 1 trocar chỉ cần một đường rạch nhỏ khoảng 1cm tại rốn. Qua đường rạch này, bác sĩ đặt một trocar duy nhất để đưa ống nội soi cùng dụng cụ chuyên biệt vào ổ bụng, quan sát toàn bộ trường mổ và thực hiện thao tác cắt ruột thừa. Sau khi cột và cắt gốc ruột thừa, phần ruột thừa viêm được lấy ra qua chính lỗ rạch nhỏ này.
Nhờ đó, bệnh nhân được giảm đau sau mổ, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm nguy cơ nhiễm trùng vết mổ và hạn chế chảy máu thành bụng.
Sau phẫu thuật, bệnh nhân tiếp tục được theo dõi sát, truyền bổ sung hồng cầu lắng và kiểm soát các chỉ số đông máu. Nhờ lựa chọn kỹ thuật xâm lấn tối thiểu cùng sự chăm sóc tích cực của đội ngũ y bác sĩ, tình trạng người bệnh phục hồi tốt và xuất viện.
Cảnh báo về bệnh tan máu bẩm sinh
Bác sĩ Toàn chia sẻ, trường hợp của anh T. là một ví dụ thách thức đặc biệt khi người mắc Thalassemia phải can thiệp ngoại khoa cấp cứu. Đây là bệnh di truyền có tỷ lệ mang gene khá cao trên thế giới. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 14 triệu người mang gene bệnh.
Thalassemia di truyền theo cơ chế lặn trên nhiễm sắc thể thường. Khi cả vợ và chồng cùng mang gene bệnh, mỗi lần sinh con sẽ có 25% nguy cơ trẻ mắc bệnh, 50% khả năng trẻ mang một gene bệnh và 25% khả năng trẻ hoàn toàn bình thường.
Người mắc Thalassemia phải truyền máu định kỳ, thải sắt và điều trị các biến chứng suốt đời. Vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo việc tầm soát và sàng lọc gene bệnh cần được thực hiện sớm, đặc biệt ở thanh niên và các cặp đôi trong độ tuổi sinh sản, nhằm có kế hoạch tư vấn và phòng ngừa phù hợp.
Phương Thúy