Vì sao nhiều du khách ngày càng thích du lịch chậm?

Vì sao nhiều du khách ngày càng thích du lịch chậm?
4 giờ trướcBài gốc
Việt Nam đang có nhiều lợi thế cho xu hướng du lịch chậm. Ảnh: TC
Trong thực tế, không ít người từng trở về sau kỳ nghỉ với cảm giác mệt hơn trước lúc đi, bởi lịch trình quá dày, thời gian ngồi trên phương tiện di chuyển còn nhiều hơn lúc thực sự tận hưởng điểm đến. Thói quen phải check-in đủ nơi, ghi lại thật nhiều hình ảnh để không bỏ lỡ xu hướng trên mạng xã hội đôi khi khiến chuyến đi trở nên vội vã và thiếu kết nối thật sự. Nỗi sợ bị bỏ lỡ (FOMO) cũng là một trong những lý do khiến nhiều người luôn cố nhồi nhét thêm địa điểm vào hành trình của mình.
Có lẽ vì thế mà “đi chậm” đang trở thành một nhu cầu tự nhiên hơn là một trào lưu nhất thời. Khác với kiểu du lịch đại trà, du lịch chậm không đặt nặng chuyện ghé được bao nhiêu nơi. Điều quan trọng hơn là mức độ trải nghiệm và khả năng kết nối với vùng đất mình đặt chân tới. Một buổi sáng thong dong ở phiên chợ vùng cao, một ngày học nấu món ăn địa phương, đạp xe qua làng chài ven biển hay chỉ đơn giản là dành thời gian ngắm cuộc sống bình yên nơi phố nhỏ…, đó đều là những điều mà kiểu du lịch “cưỡi ngựa xem hoa” khó mang lại.
Khái niệm “du lịch chậm” thực ra không mới. Đây là một nhánh của phong trào “thức ăn chậm” (slow food) do nhà báo và nhà hoạt động Carlo Petrini khởi xướng năm 1986 tại Piedmont (Ý), như một phản ứng trước sự lan rộng của thức ăn nhanh và nguy cơ mai một bản sắc địa phương. Từ câu chuyện ẩm thực, tư duy “sống chậm để cảm nhận sâu hơn” dần lan sang du lịch. Cốt lõi của du lịch chậm là đưa ra những lựa chọn có ý thức: đi ít hơn, ở lâu hơn, giảm dấu chân carbon và tạo kết nối sâu sắc với văn hóa bản địa.
Ngay từ năm 2010, hai nhà nghiên cứu du lịch của Vương quốc Anh là Janet Dickinson và Les Lumsdown đã nhận định du lịch chậm là một khung khái niệm mới, hướng tới việc di chuyển chậm hơn, lưu trú lâu hơn và đi lại ít hơn. Khi không phải liên tục chạy đua với thời gian, du khách có xu hướng chọn những hình thức di chuyển thân thiện môi trường như tàu hỏa, xe bus, xe đạp hay đi bộ; đồng thời ưu tiên homestay, farmstay hoặc lưu trú cùng người bản địa để hiểu hơn về nếp sống nơi mình ghé qua.
Một trong những biểu tượng rõ nét của tinh thần “đi chậm” là hành trình “Out of Eden” của Paul Salopek, nhà báo từng đoạt giải Pulitzer. Từ năm 2013 đến nay, ông vẫn đi bộ men theo dấu chân di cư của tổ tiên loài người trên quãng đường dài 24.000 dặm từ Ethiopia đến cực Nam Nam Mỹ. Với Paul Salopek, đi chậm không phải là trì hoãn, mà là cách con người hiểu thêm về thế giới và cả chính mình.
Xu hướng này đang hiện diện ngày càng rõ nét. Từ 25 báo cáo du lịch quốc tế, hãng CNBC dự báo những xu hướng đáng chú ý của ngành du lịch toàn cầu năm 2026, trong đó trọng tâm không còn nằm ở số lượng điểm đến mà chuyển sang trải nghiệm, tính bền vững và mức độ cá nhân hóa cao. Du khách được cho là ngày càng quan tâm đến các điểm đến thứ cấp - những nơi không quá đông đúc nhưng mang lại trải nghiệm sâu hơn.
Du khách tại Nhà thờ Lớn (Hà Nội). Ảnh: TC
Đáng chú ý, trong danh sách những điểm đến du lịch chậm hàng đầu châu Á do Agoda công bố, Hội An đứng đầu nhờ không gian phố cổ nhỏ xinh, phù hợp để đi bộ, đạp xe và hòa mình vào các trải nghiệm bản địa như học nấu ăn, may đo, khám phá cánh đồng lúa xanh mướt... Trước đó, Agoda cũng từng vinh danh Nha Trang, Đà Nẵng và TP.HCM là những điểm đến phù hợp với du lịch chậm dựa trên dữ liệu tìm kiếm của du khách.
Không khó để thấy Việt Nam đang có nhiều lợi thế cho xu hướng này. Các mô hình homestay, farmstay, du lịch cộng đồng, trekking tour, walking tour, nghỉ dưỡng chữa lành hay du lịch bằng tàu hỏa ngày càng phát triển. Những địa phương như Hà Nội, Huế, Ninh Bình, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Cần Thơ… với cảnh quan tự nhiên và chiều sâu văn hóa cũng đang cho thấy tiềm năng lớn trong việc giữ chân du khách lâu hơn thay vì chỉ ghé qua chóng vánh.
Không chỉ giúp du khách tái tạo năng lượng, du lịch chậm còn đem lại giá trị kinh tế rõ ràng cho điểm đến: kéo dài thời gian lưu trú, gia tăng chi tiêu và tạo động lực để cộng đồng địa phương gìn giữ bản sắc văn hóa. Đồng thời, hình thức này cũng góp phần giảm áp lực lên hạ tầng, môi trường và tình trạng quá tải vào mùa cao điểm.
Đây là những định hướng phù hợp với chiến lược phát triển du lịch xanh, bền vững mà Việt Nam đang theo đuổi, trong đó Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch giàu trải nghiệm, gắn với văn hóa và giảm phát thải.
Tuy nhiên, để du lịch chậm thực sự phát triển, bài toán không chỉ nằm ở việc có thêm sản phẩm mới mà còn ở tư duy làm du lịch. Theo các chuyên gia, nhiều địa phương lâu nay vẫn lấy số lượng khách làm thước đo hiệu quả mà chưa chú trọng đủ tới chiều sâu trải nghiệm. Hệ quả là khách đến đông nhưng đi nhanh, điểm đến dễ bị thương mại hóa và mai một bản sắc. Theo các chuyên gia, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, những nơi biết kể chuyện, tạo trải nghiệm và giữ được giá trị văn hóa - thiên nhiên mới có sức hút bền vững với du khách.
Suy cho cùng, du lịch chậm không phải là đi thật lâu hay cố tình sống chậm. Điều quan trọng là cách mỗi người hiện diện trong chuyến đi của mình. Khi không còn áp lực “phải thấy hết”, người ta có thời gian ngồi lâu hơn ở một quán cà phê địa phương, lạc vào một con hẻm nhỏ, trò chuyện với người bán hàng hay đơn giản là để tâm đến những điều rất nhỏ mà trước đây từng bỏ qua. Và đôi khi, chính những khoảnh khắc tưởng chừng bình thường ấy lại là thứ ở lại lâu nhất sau mỗi chuyến đi.
NHƯ BÌNH
Nguồn Văn hóa : http://baovanhoa.vn/du-lich/vi-sao-nhieu-du-khach-ngay-cang-thich-du-lich-cham-232671.html