Ngày 9-4, đại diện VKSND TP.HCM đã đề nghị mức án đối với 22 bị cáo trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam, Tổng Công ty Cao su Đồng Nai, Công ty Cao su Bà Rịa, UBND TP.HCM, Bộ NN&PTNT (cũ) cùng các đơn vị liên quan.
Trong số 22 bị cáo, có 10 bị cáo được VKS đề nghị HĐXX cho hưởng án treo.
Cụ thể, cùng về tội vi phạm quy định về quản lý tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí, VKS đề nghị tuyên phạt:
Các bị cáo Huỳnh Trung Trực (cựu phó tổng giám đốc Tập đoàn Cao su), Phạm Văn Hiền và Nguyễn Công Tài mức án 30 - 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Các bị cáo Lê Xuân Hòe (cựu phó tổng giám đốc Tập đoàn Cao su, kiêm chủ tịch HĐTV Cao su Đồng Nai), Nguyễn Thị Gái (cựu tổng giám đốc Cao su Đồng Nai), Nguyễn Văn Minh (cựu trưởng phòng KH&ĐT Cao su Đồng Nai), Nguyễn Trọng Cảnh (cựu tổng giám đốc Cao su Bà Rịa) và Nguyễn Thị Như Loan (cựu tổng giám đốc, chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai) bị đề nghị 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo
Bà Nguyễn Thị Như Loan, cựu chủ tịch HĐQT Công ty Quốc Cường Gia Lai cùng 9 bị cáo khác được VKS đề nghị cho hưởng án treo vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Ảnh: NGUYỄN DUY
Bị cáo Nguyễn Thị Hồng (cựu phó chủ tịch UBND TP.HCM) bị đề nghị mức án 30 - 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Bị cáo Trần Khắc Chung (cựu kiểm soát viên phụ trách chung tại Tập đoàn Cao su) 24 - 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo đại diện VKS, các bị cáo trong vụ án đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không chỉ thành khẩn khai báo, mà còn tích cực hợp tác với cơ quan tố tụng trong việc giải quyết vụ án; nhiều bị cáo lớn tuổi, đa số các bị cáo đều có thành tích xuất sắc trong công tác; các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều đóng góp cho xã hội, lần đầu phạm tội. VKS đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 BLHS khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, một số bị cáo là cấp dưới, làm theo chỉ đạo của cấp trên, không được hưởng lợi nhưng đã tích cực, tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả chung của vụ án như các bị cáo: Huỳnh Trung Trực, Phạm Văn Hiền, Lê Xuân Hòe, Nguyễn Thị Gái, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Trọng Cảnh, Trần Văn Chung; bị cáo Nguyễn Công Tài là nạn nhân chất độc Dioxin; bị cáo Nguyễn Thị Hồng trong quá trình công tác có nhiều đóng góp cho Thành phố; nguyên nhân dẫn đến sai phạm một phần do quy định pháp luật chưa rõ ràng, đầy đủ, hành vi sai phạm gián tiếp dẫn đến hậu quả.
Bị cáo Nguyễn Thị Như Loan sai phạm một phần do nhận thức pháp luật; sau khi nhận thức được hành vi sai phạm đã tích cực, chủ động khắc phục phần lớn số tiền hưởng lợi là hơn 234 tỉ đồng.
Do vậy, VKS cho rằng có thể xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo này, không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng có đủ sức răn đe, phòng ngừa và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đề nghị cho bị cáo hưởng án treo không trái luật
Theo cáo trạng của VKSND TP.HCM, một số bị cáo bị truy tố theo khoản 3 Điều 219 BLHS (khung hình phạt từ 10-20 năm tù) và được VKS đề nghị cho hưởng án treo là không trái quy định hiện hành. Bởi lẽ, khi đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo, đại diện VKS đề áp dụng các Điều 51, Điều 54 và Điều 65 BLHS.
Điều 51 BLHS quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là điều kiện nền tảng, là "nguyên liệu" để bị cáo có thể được áp dụng Điều 54 (quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng) và Điều 65 (án treo).
Trong trường hợp này, các bị cáo được VKS đề nghị cho hưởng án treo được VKS ghi nhận có 4 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Từ nhiều tình tiết giảm nhẹ này và căn cứ vào tính chất, mức độ và nhân thân của các bị cáo thì căn cứ vào khoản 2 Điều 54 BLHS cho phép Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Khoản 3 Điều 219 BLHS có khung hình phạt từ 10-20 năm, trong khi đó khoản 1 của tội phạm này có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Do đó, căn cứ vào Điều 54 và 65 BLHS (mức hình phạt tù không quá 3 năm thì có thể cho hưởng án treo), đại diện VKS căn cứ vào mức độ, tính chất, nhân thân của các bị cáo để đề nghị cho 10 bị cáo được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề và cho hưởng án treo là trong phạm vi quy định cho phép.
Luật sư Trần Văn Giới, Đoàn Luật sư TP.HCM
SONG MAI
HỮU ĐĂNG