Việt Nam cần 260 tỷ USD/năm để tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, nguồn lực ở đâu?

Việt Nam cần 260 tỷ USD/năm để tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030, nguồn lực ở đâu?
3 giờ trướcBài gốc
Mục tiêutăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đầy tham vọng mà Việt Nam đặt ra trong giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn.
Theo tính toán của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần huy động giai đoạn 2026 - 2030 mỗi năm ước tương đương khoảng 40% GDP, tức khoảng 260 tỷ USD theo giá hiện hành, chưa kể nhu cầu vốn bổ sung cho ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng và phát triển hạ tầng số.
Về thuận lợi, ông Lực cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều dư địa quan trọng. Trước hết, tỷ lệ tiết kiệm so với GDP hiện đạt khoảng 37%, trong khi tỷ lệ đầu tư ở mức khoảng 31% GDP, cho thấy tiềm năng nguồn lực trong dân cư và doanh nghiệp còn rất lớn, bao gồm cả phần vốn đang tích tụ trong hệ thống ngân hàng.
So sánh quốc tế cũng cho thấy, với mức tiết kiệm khoảng 37% GDP, Việt Nam có nền tảng tích lũy tương đối tích cực, cao hơn nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đồng, đặc biệt trong khu vực ASEAN.
Cùng với đó, khu vực tài chính đã tăng trưởng mạnh trong khoảng 15–16 năm qua. Tổng tài sản hệ thống ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, dư nợ thị trường trái phiếu và doanh thu bảo hiểm đều duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 16,5%/năm.
Ngoài các kênh truyền thống, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam còn nhiều nguồn lực tiềm năng khác cần được khai thác hiệu quả hơn như tài chính xanh quốc tế, thặng dư thương mại, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kiều hối và du lịch. Riêng kiều hối qua hệ thống ngân hàng mỗi năm đạt khoảng 7–10 tỷ USD.
Các kênh mới như trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tài sản số (tài sản mã hóa) và thị trường carbon được kỳ vọng có thể cải thiện tính thanh khoản và khả năng luân chuyển dòng vốn nếu được thiết kế và quản lý phù hợp.
Các nguồn lực như vàng trong dân, vốn tồn đọng trong bất động sản, cùng với tiết kiệm từ chống tham nhũng, chống lãng phí cũng được đánh giá là rất lớn và cần được coi là một đột phá trong thời gian tới.
“Việc nâng cao hiệu quả hoàn thuế, rút ngắn thời gian và cải thiện quy trình cũng được xem là một cách bổ sung nguồn lực cho nền kinh tế”, ông Lực nêu rõ.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Những điểm nghẽn mang tính hệ thống
Tuy nhiên, theo TS. Cấn Văn Lực, quy mô nguồn lực rất lớn này cũng đặt ra không ít thách thức đối với khả năng huy động vốn của nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, từ mức khoảng 3,4% xuống còn xấp xỉ 3%/năm, Việt Nam có độ mở lớn dễ chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài.
Cùng với đó là những thách thức ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và các rủi ro phi truyền thống, khiến nhu cầu vốn ngày càng lớn trong khi các kênh dẫn vốn còn nhiều bất cập.
Đáng chú ý, cấu trúc thị trường tài chính bộc lộ rõ những điểm nghẽn mang tính hệ thống. Tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 50–55% tổng vốn cung ứng cho nền kinh tế, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 145–147% và có thể tiến sát 180% GDP vào năm 2030 nếu duy trì tốc độ tăng hiện nay. Mức độ phụ thuộc này cao hơn đáng kể so với bình quân các nền kinh tế thu nhập trung bình, tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn tài chính vĩ mô.
“Trong bối cảnh đó, các kênh dẫn vốn trung và dài hạn như thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp phát triển chậm, quy mô còn nhỏ và đóng góp hạn chế vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội, khiến gánh nặng tiếp tục dồn lên hệ thống ngân hàng”, ông Lực nêu rõ.
Đồng tình với quan điểm này, TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới cho rằng, mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng, đặc biệt là tín dụng cho khu vực tư nhân, đang ở mức quá cao, phản ánh hiệu quả phân bổ vốn còn hạn chế và tiềm ẩn rủi ro đối với ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP bình quân quốc tế chỉ quanh mức 100%, khu vực EU khoảng 93%, thì Việt Nam đã vượt xa các ngưỡng này, đặt ra yêu cầu phải từng bước giảm vai trò chi phối của tín dụng ngân hàng trong tăng trưởng.
Trong bối cảnh đó, lạm phát từ đầu năm 2024 đã cao hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực, làm thu hẹp dư địa mở rộng chính sách tài khóa và tiền tệ, đặc biệt trong bối cảnh theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số và duy trì năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Đáng lưu ý, hệ số an toàn vốn (CAR) của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp so với mặt bằng khu vực và chủ yếu tập trung ở các ngân hàng thương mại, qua đó làm gia tăng rủi ro khi tín dụng tiếp tục mở rộng nhanh trong thời gian tới.
Nguồn: Báo cáo Tổng quan thị trường tín dụng Việt Nam phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững
Không đầu tư bằng mọi giá
Từ kinh nghiệm quốc tế, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới lưu ý, trong giai đoạn tới, tăng trưởng cao không thể và không nên đạt được bằng cách mở rộng đầu tư bằng mọi giá, mà phải dựa chủ yếu vào nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là trong các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh. Điều này đòi hỏi cải cách thể chế đủ mạnh, có lộ trình rõ ràng, nhằm huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả, hạn chế rủi ro bất ổn vĩ mô.
Vì vậy, Việt nam cần đa dạng hóa các kênh dẫn vốn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng thông qua phát triển thị trường chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu, đồng thời lành mạnh hóa thị trường cổ phiếu và kiểm soát các hình thức đòn bẩy rủi ro cao.
Việc ưu tiên tín dụng cho các lĩnh vực ít gây lạm phát, như năng lượng tái tạo, thương mại điện tử, đổi mới sáng tạo và ươm tạo công nghệ, sẽ giúp vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa tránh hệ lụy từ đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.
“Hoàn thiện quy hoạch quốc gia và địa phương, gắn đầu tư với cải cách hành chính và kiểm soát rủi ro tín dụng là điều kiện then chốt để bảo đảm tăng trưởng cao đi đôi với ổn định và bền vững”, ông Sang nêu rõ.
TS. Lê Xuân Sang, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Còn theo TS. Cấn Văn Lực, để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực cho tăng trưởng cao, giải pháp then chốt trước hết là đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, đặc biệt sớm ban hành khung pháp lý cho các mô hình, lĩnh vực mới như thị trường carbon, sàn giao dịch hàng hóa, tài sản mã hóa, cũng như triển khai thực chất trung tâm tài chính quốc tế và nâng hạng thị trường chứng khoán.
Cùng với đó, cần phát triển thị trường tài chính theo hướng cân bằng hơn, giảm lệ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng, đồng thời mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn theo nguyên tắc thị trường. Việc sử dụng các công cụ tài chính cần minh bạch, hiệu quả, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, nhất là vai trò của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Đặc biệt, tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, bởi đây là nền tảng quan trọng nhất để củng cố niềm tin của người dân và nhà đầu tư, trong và ngoài nước.
"Không thể đầu tư bằng mọi giá, nhất là trong bối cảnh quy mô thị trường tài chính ngày càng lớn, tính liên thông và rủi ro hệ thống gia tăng, đòi hỏi nâng cao năng lực quản lý, giám sát khu vực tài chính", ông Lực nêu rõ.
Bên cạnh đó, cần khơi thông các nguồn lực còn tồn đọng trong nền kinh tế, tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa tiền tệ trong bối cảnh xuất hiện nhiều công cụ mới, đồng thời đầu tư sớm và bài bản cho con người, coi đây là trụ cột để phát triển kinh tế tri thức và nâng cao năng suất dài hạn.
"Nguồn lực cho tăng trưởng là có, cả trong và ngoài nước, nhưng vẫn bị cản trở bởi nhiều điểm nghẽn về thể chế, thị trường và quản trị rủi ro. Vì vậy, cần sớm xây dựng một chiến lược tổng thể về huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, gắn với nâng cao năng suất, chuyển đổi số và chất lượng tăng trưởng, tránh tư duy ứng phó ngắn hạn, “chữa cháy” - vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế", ông Lực nhấn mạnh.
Ngọc Bảo
Nguồn Doanh Nhân VN : https://doanhnhanvn.vn/viet-nam-can-260-ty-usdnam-de-tang-truong-hai-con-so-giai-doan-2026-2030-nguon-luc-o-dau.html